Vua Trần Nhân Tông
-Anh hùng dân tộc kiêm triết gia, thi sĩ-
Giáo sư
Đặng Đức Siêu
Trần
Nhân Tông tên làm Khâm, con trưởng Thánh Tông, sinh năm 1258,
đúng năm Thái Tông và Thánh Tông đánh tan quân xâm lược
Nguyên - Mông lần thứ nhất.
Nói đến
Trần Nhân Tông trước hết là nói đến người
anh hùng cứu nước. Ông làm vua 14 năm (1279 - 1293).
Trong thời gian ấy, đất nước Đại
Việt đứng trước thử thách ghê gớm: hiểm
họa xâm lược lần thứ 2 và thứ 3 của giặc
Nguyên-Mông.
Trong 2 lần kháng chiến, Trần Nhân Tông đă
trở thành ngọn cờ "kết chặt ḷng dân",
lănh đạo quân dân Đại Việt vượt qua bao
khó khăn, đưa cuộc chiến đấu tới thắng
lợi huy hoàng. Qua 2 cuộc kháng chiến, Trần Nhân Tông
đă tỏ rơ ông vừa là nhà chiến lược tài giỏi,
vừa là vị tướng cầm quân dũng cảm ngoài
chiến trường. Chính vào giai đoạn đầu của
cuộc kháng chiến năm 1285, khi quân ta đang c̣n ở
thế không cân sức với đối phương, Trần
Nhân Tông đă viết lên đuôi chiến thuyền 2 câu
thơ đầy khí phách và niềm tin vào sức mạnh tiềm
tàng của quân ta:
Cối kê
cựu sự quân tu kư,
Hoan diễn
do tồn thập vạn binh.
(Cối Kê
chuyện cũ ngươi nên nhớ,
Hoan Diễn
đang c̣n chục vạn quân).
Hai câu
thơ này cùng với hai câu Nhân Tông viết bên lăng Trần
Thái Tông tại Long Hưng (Thái B́nh) lúc làm lễ dâng tù binh mừng
chiến thắng lần thứ ba:
Xă tắc
lưỡng hồi lao thạch mă,
Sơn hà
thiên cổ điện kim âu.
(Xă tắc
hai lần lao ngựa đá,
Non sông
ngh́n thuở vững âu vàng.)
đă đi vào lịch sử như một kư ức
bất diệt về chiến công b́nh Nguyên năm 1285 và
1288, trong đó Nhân Tông là vị chủ soái.
Khi nh́n nhận
nguyên nhân thắng lợi nhà Trần đă giành được
trong sự nghiệp cứu nước. Trần Nhân Tông
đă đánh giá cao vai tṛ của nhân dân lao động (thời
đó sử cũ chép là gia nô, gia đồng). Ông cho rằng
chính họ mới
là những người trung thành với đất
nước khi có giặc ngoại xâm. Đại Việt sử
kư toàn thư chép: "Vua (Nhân Tông) ngự chơi bên ngoài, giữa
đường gặp gia đồng của các
vương hầu tất gọi rơ tên mà hỏi: "Chủ
mày đâu?" và dặn ḍ các vệ sĩ không được
thét đuổi. Khi về cung, vua bảo các quan hầu cận
rằng: "Ngày thường có kẻ hầu cận hai
bên, lúc Nhà nước hoạn nạn th́ chỉ có bọn ấy
đi theo thôi".
Sau 14
năm làm vua, theo truyền thống của nhà Trần, Nhân
Tông nhường ngôi cho con là Anh Tông, rồi làm Thái thượng
hoàng và đi tu, trở thành Tổ thứ nhất phái Thiền
Trúc Lâm Yên Tử, một phái Thiền để lại dấu
ấn đặc sắc trong lịch sử tư tưởng
Việt Nam.
Xét trên b́nh
diện triết học, Trần Nhân Tông có một vị
trí quan trọng. Ông là một triết gia lớn của Phật
học Việt Nam. Với phái Thiền Trúc Lâm mà Trần
Nhân Tông là người đứng đầu, triết học
Phật giáo Việt Nam thời Trần đă phát triển rực
rỡ và thể hiện được đầy đủ
trí tuệ Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam. Nét đặc
trưng nổi bật của tư tưởng triết học
Trần Nhân Tông là tinh thần thực tiễn, chiến
đấu, táo bạo. Sách Tam Tổ thực lục viết:
"Một học tṛ hỏi Điều ngự Nhân Tông:
"Như thế nào là Phật?" Nhân Tông đáp:
"Như cám ở dưới cối". Hoặc, một
lần học tṛ hỏi Nhân Tông: "Lúc giết người
không để mắt th́ như thế nàỏ" Đáp:
"Khắp toàn thân là can đảm"...
Anh hùng cứu
nước, triết nhân và thi sĩ, ba phẩm chất ấy
kết hợp hài ḥa với nhau trong con người Trần
Nhân Tông. Về phương diện thi sĩ, ông là người
có một tâm hồn thanh cao, phóng khoáng, một cái nh́n tinh tế,
tao nhă, nhất là đối với cảnh vật thiên
nhiên:
Thôn hậu
thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô bán hữu
tịch đương biên,
Mục
đồng địch lư ngưu quy tận
Bạch lộ
song song phi hạ điền.
(Trước
xóm sau thôn tựa khói lồng,
Bóng chiền
man mác có dường không,
Theo lời
kèn mục trâu về hết,
C̣ trắng
từng đôi liệng xuống đồng).
(Thiên trường
văn vọng - Bản dịch của Ngô Tất Tố)
Thơ Trần
Nhân Tông, ngoài vẻ đẹp của một âm điệu
hồn hậu, c̣n bao hàm một ư vị Thiền, gợi mở
một thế giới tinh thần thanh khiết. Trong lịch
sử thi ca Việt Nam, cây sáo thơ Trần Nhân Tông để
lại một tiếng ngân trong đến thẳm sâu.
Trần
Nhân Tông qua đời năm 1308 tại am Ngọa Vân, núi Yên
Tử, Đông Triều, Quảng Ninh.
Giáo sư
Đặng Đức Siêu
(Xin Giáo
sư Đặng
Đức Siêu cho phép chúng tôi được đăng tải
bài viết này.
Trúc Lâm Lê An B́nh đa tạ)