Vô Nhất Đại Sư Thích Thiền
Tâm lược truyện
Bửu Quang tự đệ tử
Liên Hương kính lục
Nguồn : không nhớ rơ xuất xứ
Nam mô Hương Nghiêm Tịnh Viện,
Hương Quang Tịnh Thất, Phương Liên Tịnh Xứ
đường thượng Tam Tạng Pháp Sư Vô Nhất
Thượng Nhân thượng Thiền hạ Tâm húy Trí Hiền
Ḥa Thượng giác linh tác đại chứng minh.
Thượng Nhân pháp danh Trí Hiền,
pháp tự Thiền Tâm, biệt hiệu Vô Nhất, bút hiệu
Liên Du, thế danh là Nguyễn Nhựt Thăng, sanh năm Ất
Sửu (1926) tại làng B́nh Xuân, quận Ḥa Đồng, tỉnh
G̣ Công. Là con thứ mười của cụ Nguyễn
Văn Hương, một bậc túc nho, và cụ bà Giác Ân
Trần Thị Dung. Trong khi mang thai Đại Sư, cụ bà
đột nhiên chăm lo làm công quả tại ngôi chùa nhỏ
trong làng. Có lẽ đó là do phước nghiệp của Đại
Sư chiêu cảm nên điều này.
Từ thuở nhỏ, Đại
Sư đă không thích chạy giỡn, chơi đùa mà
thường thích thắp hương, bái xá, và theo thân phụ
học chữ Nho. Đến năm lên chín tuổi, Đại
Sư đă có thể đọc trôi chảy các sách Nho học
như Tứ Thư, các bộ truyện Tàu và viết chữ
Hán khá lưu loát. Song song với việc học chữ Hán,
Đại Sư c̣n học tiếng Pháp và chữ Quốc Ngữ.
Từ năm lên bảy tuổi,
nhân mục kích cái chết rất trẻ của một thiếu
niên trong xóm, Đại Sư đă bắt đầu có những
ưu tư về lẽ sống chết. Vào khoảng
năm 1935, lúc lên mười tuổi, trong lúc đang cắt
cỏ ruộng với thân phụ, chợt Ḥa Thượng
Phật Ấn, trụ tŕ chùa Vĩnh Tràng (Mỹ Tho), đi
ngang. Đại Sư liền chạy tới ba lượt
đảnh lễ Ḥa Thượng. Ḥa Thượng liền
huyền kư về sau đứa trẻ kỳ lạ này sẽ
xuất gia và nhắc nhở gia đ́nh không nên ngăn cản.
Cuối năm 1937, sau khi hoàn tất
bậc Tiểu Học, Đại Sư xin phép cha lên Mỹ
Tho, ngụ tại chùa Vĩnh Tràng để tiếp tục
học chữ và Đông Y. Chính trong thời gian này, Đại
Sư đă tận dụng thời gian rảnh rỗi
để tự trau giồi nội điển cũng
như tham học Phật pháp với Bổn Sư Ḥa
Thượng Phật Ấn. Ḥa Thượng đặt cho
pháp danh cho Đại Sư là Trí Hiền. Do cơ duyên, Đại
Sư cũng được học theo nghề thuốc với
một vị Đông Y Sĩ nổi tiếng ở Mỹ Tho thời
đó là thầy Tế An Đường và các vị đại
phu nổi tiếng khác.
Đến năm 1943, Đại Sư
đă lấy được bằng Thành Chung (tương
đương Trung Học Đệ Nhất Cấp sau này). Trở
về quê nhà, Đại Sư vừa hốt thuốc cho thân mẫu
đang lâm bịnh vừa giảng dạy Phật pháp cho
song thân và người anh thứ năm. Dưới sự
khuyến hóa của Đại Sư, gia đ́nh ngài đă biết
thờ Phật và tu niệm.
Năm 1945, sau khi cầu thỉnh
xin xuất gia không được song thân chấp nhận,
ngài đă lén trốn đi, t́m đến chùa Sắc Tứ
Linh Thứu ở Xoài Hột để xin xuất gia với
Ḥa Thượng thượng Thành hạ Đạo. Đại
Sư được thọ Sa Di Giới với pháp tự
là Thiền Tâm.
Nhận thấy sa di Thích Thiền
Tâm sẽ là một bậc long tượng cho Phật Giáo
Việt Nam sau này, Ḥa Thượng Linh Thứu đă thuyết
phục Đại Sư lên Sài G̣n, t́m đến Ḥa Thượng
viện chủ Tổ Đ́nh Ấn Quang thượng Thiện
hạ Ḥa để xin gia nhập Phật Học Viện
Liên Hải (chùa Sùng Đức) hầu thụ học
chương tŕnh Trung Đẳng Phật Học từ năm
1948 đến năm 1950.
Năm 1950, Đại Sư thọ
Cụ Túc Giới và cầu pháp nơi Viện Chủ Tổ
Đ́nh Ấn Quang kiêm đốc giáo Phật Học Đường
Nam Việt là Ḥa Thượng Thiện Ḥa. Khi chương
tŕnh Cao Đẳng Phật Học khóa 1 được khai giảng,
do thành tích học tập xuất sắc, Đại Sư
được chọn vào lớp Tăng Sinh đầu
tiên. Dù chỉ mới 24 tuổi, Đại Sư đă
được ban giáo thọ tin cậy, giao đảm nhiệm
chức vị Tri Chúng (tức là trưởng tràng). Trong quá
tŕnh học tập, Đại Sư luôn nổi bật về
mọi phương diện học vấn, tài đức,
khả năng, thiện chí.
Khi khóa học hoàn tất vào
năm 1954, trong số hơn 100 học tăng, chỉ có 13
vị được tốt nghiệp, Đại Sư
được xếp hạng Tối Ưu. Sau khi tốt
nghiệp, Đại Sư được ban giảng sư Phật
Học Đường Nam Việt giao trách nhiệm hoằng
dương Tịnh Độ. Đại Sư đă khẩn nài
các vị tôn túc cho ngài được nhập thất chuyên
tu Tịnh Độ một thời gian để có thể
hoàn thành trọng trách ấy; nhưng các vị tôn sư chỉ
hứa khả cho ngài nhập thất trong một thời
gian ngắn và phải xuất quan bất cứ khi nào giáo hội
cần đến ngài.
Trở về Mỹ Tho, Đại
Sư lập cốc tại Cái Bè để chuyên tu Tịnh
Nghiệp suốt năm năm (1955-1960). Trong thời gian ẩn
cư này, dù gặp nhiều chướng duyên khảo đảo,
Đại Sư vẫn tinh cần tu tập, đồng thời
biên dịch hai tác phẩm quan trọng làm tư lương
cho Tịnh Độ học nhân Việt Nam:
* Trích tuyển những bài
văn quan trọng trong cuốn Ấn Quang Văn Sao, soạn
thành tác phẩm Lá Thư Tịnh Độ (hoàn tất năm
1956) nhằm phá nghi, hóa đạo chúng sanh tin tưởng,
hành tŕ Tịnh nghiệp.
* Soạn thuật bộ Tịnh
Độ Tân Lương, 2 quyển, dày 800 trang để chỉ
dạy cặn kẽ sự lợi ích thiết thực của
pháp môn Tịnh Độ cũng như cách thức tu hành sao cho
xứng hợi với từ bi nguyện hải của
đức Từ Phụ Di Đà.
Từ năm 1960-1962, Thượng
Nhân tiếp tục nhập thất tịnh tu tại Vang Quới
(Bến Tre) và soạn thuật những tác phẩm quan trọng
sau đây như Hương Quê Cực Lạc, Tịnh Độ
Thập Nghi Luận, Tịnh Độ Pháp Nghi. Tiếp đó,
trong thời gian nhập thất tịnh tu tại tịnh
thất Giác Duyên (Chợ Gạo, Mỹ Tho), ngài đă phiên dịch
kinh Phật Thuyết Thiện Ác Nhân Quả Báo Ứng theo
thể văn vần và soạn thuật bộ Quán Vô Lượng
Thọ Sớ Sao. Đây là một công tŕnh đặc sắc tổng
hợp các ư kiến phán giáo và chú giải kinh Quán Vô Lượng
Thọ của các vị Tổ Sư lỗi lạc như
Thiên Thai Trí Giả, Linh Chi Nguyên Chiếu, Liên Tông Nhị Tổ
Thiện Đạo v.v…
Năm 1963, sau cơn Pháp Nạn,
viện Trung Đẳng Chuyên Biệt Phật Học được
thành lập để đào tạo tăng tài tại chùa
Huệ Nghiêm (Phú Lâm, Sài G̣n). Ḥa Thượng Thiện Hoa
đă triệu Đại Sư về Sài G̣n giữ chức Viện
Trưởng kiêm Đốc Giáo với sự phụ tá của
hai vị Thượng Tọa Bửu Huệ và Thanh Từ.
Học Viện sau được đổi tên thành Viện
Cao Đẳng Phật Học Huệ Nghiêm. Để việc
đào tạo được toàn diện, Đại Sư
đă quyết định mở thêm việc học ngoại
điển theo chương tŕnh văn hóa phổ thông theo
quy định của Bộ Giáo Dục. Ngoài việc giảng
dạy tại Huệ Nghiêm, Đại Sư c̣n được
cung thỉnh làm giảng sư giảng dạy môn Duy Thức
cho Phân Khoa Phật Học của viện đại học
Vạn Hạnh và làm giáo thọ cho các ni trường Dược
Sư và Từ Nghiêm.
Tuy rất bận rộn, Ḥa
Thượng vận tiếp tục soạn thuật các tác
phẩm quan trọng sau đây: Phật Học Tinh Yếu,
Niệm Phật Thập Yếu, Duy Thức Học
Cương Yếu, Đại Bi Tâm Đà Ra Ni (Đại Chánh Tạng,
quyển 20, kinh số 1060, bản Hán dịch của ngài Già
Phạm Đạt Mạ). Riêng cuốn Niệm Phật Thập
Yếu là một tác phẩm cực quư cho hành giả Tịnh
Nghiệp, luận về mọi phương diện sự
lư của pháp Tŕ Danh Niệm Phật, cách thức tu tập,
ngăn ngừa chướng duyên cho hành giả Tịnh Độ.
V́ thế, tác phẩm này đă liên tục được
tái bản, tục ấn. Ngay cả Tịnh Tông Học Hội
Đài Loan cũng đă trùng ấn tác phẩm này với số
lượng lớn (10.000 cuốn).
Tiếc thay, Đại Sư đảm
nhận trách nhiệm đào tạo Tăng tài cho Giáo Hội
nhằm ngay thời kỳ đấu tranh kiên cố của
thời Mạt Pháp. Ngay trong số những học tăng
đang theo học tại Huệ Nghiêm, không ít vị đă
bị lôi cuốn vào những cuộc đấu đá, sách
động nhằm tranh giành quyền lực vô bổ. Chủ
trương chuyên tâm nghiên cứu Phật học, tuyệt
đối không tham gia vào những cuộc tranh chấp thế
tục khoác mỹ hiệu bảo vệ đạo pháp của
Ḥa Thượng bị chống đối và ngài bị chỉ
trích là khiếp nhược, cầu an, thiếu tinh thần
tương trợ để tăng thêm “sức mạnh”
cho Phật Giáo Việt Nam!
Nhận thấy không thể làm
ǵ khác hơn được để văn hồi t́nh trạng
hỗn loạn nay biểu t́nh, mai tuyệt thực chống
đối chính phủ được cầm đầu bởi
những tăng sĩ hoạt đầu đầy tham vọng
thời ấy, Đại Sư đành chọn con đường
từ nhiệm để kết thất ẩn tu. Năm
1967, nhân một người tục gia đệ tử là
Minh Thiện đến thăm và nhắc đến ấp
địa danh Phú An, thấy địa danh này phù hợp với
lời tiên triệu của Cố Bổn Sư ḿnh trong giấc
mộng nên vào tháng 12 năm đó, Ḥa Thượng đă quyết
chí tạ từ Ḥa Thượng Phó Tăng Thống Thiện
Ḥa để xin về Đại Ninh ẩn tu, giao Phật Học
Viện Huệ Nghiêm lại cho Thượng Tọa Bửu
Huệ quản trị. Tuy vậy, Đại Sư vẫn phải
lưu Học Viện một thời gian để giúp
đỡ Thượng Tọa Bửu Huệ theo lời
yêu cầu của Ḥa Thượng Phó Tăng Thống. Măi
đến năm 1968, việc xây cất Hương Quang tịnh
thất ở Phú An đă xong, Ḥa Thượng liền chính
thức ẩn tu vào năm 43 tuổi!
Đại Ninh là một vùng hoang vu nằm
cách quốc lộ 20 chừng ba cây số, cạnh sông Đại
Ninh thuộc khu vực thủy điện Đa Nhim.
Hương Quang tịnh thất được dựng
trên một vùng đất hoang vu toàn g̣ mối, rắn rết
thuộc thôn Đại Ninh, thôn Phú An, xă Phú Hội, quận Đức
Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Thôn Phú An chỉ có chừng 50
nhà và chỉ có 10 nhà là người Kinh. Hương Quang tịnh
thất chỉ là một căn thất nhỏ lớn chừng
2 pḥng ngủ gồm 2 tầng: tầng trên để thờ
Phật, tầng dưới để ở và làm việc.
Về đây, Đại Sư chỉ lo chuyên tu tŕ niệm, rảnh
rỗi th́ làm vườn, dọn rẫy. Đức hạnh của
Sư đă cảm nhiều loài dị loại đến
nghe kinh, hộ thất. Ḥa Thượng đă thực hành
pháp Du Già Thí Thực để hồi hướng công đức
đến cho chúng. Theo các đệ tử của ngài, những
loài linh xà thường hiện thân trong giấc mộng xin
quy mạng, thọ giới. Ḥa Thượng đều hoan
hỷ lập đàn truyền giới cho họ.
Tuy đă quyết chí ẩn lánh
thế tục, nhưng tứ chúng vẫn mến mộ
đức hạnh của một bậc cao tăng đức
hạnh nên lần lượt đổ dồn về Đại
Ninh lập thất tu học. Chỉ trong ṿng một năm
từ 1969 đến 1970, vùng Đại Ninh hoang vắng đă
trở thành một “làng tu” nổi tiếng ở Lâm Đồng.
Do tứ chúng vân tập quá đông đảo, chẳng
đặng đừng, Đại Sư phải xuất quan
theo lời thỉnh cầu của mọi người
để lănh đạo công việc kiến thiết một
tu viện cho tứ chúng có nơi an cư tu học. Nhờ
phước lực của Ḥa Thượng, một đại
đội công binh chịu trách nhiệm tu bổ kiều lộ
trong vùng đă hoan hỷ đứng ra góp phần xây cất
tu viện.
Đầu năm 1971, Hương
Nghiêm tịnh viện được hoàn thành, trở thành
đạo tràng Tịnh Độ đầu tiên trong vùng. Cuối
năm 1971, Đại Sư giao việc quản trị
Hương Quang Tịnh Thất và Hương Nghiêm Tịnh
Viện cho đại chúng quản trị để nhập
thất vĩnh viễn tại Phương Liên tịnh xứ
ở gần đó. Ḥa Thượng dành trọn thời
gian để tụng niệm, quán tưởng, lễ bái,
dịch thuật. Trong thời gian này, Đại Sư đă
phiên dịch các tác phẩm quan trọng sau đây: Phật Đảnh
Tôn Thắng Đà Ra Ni (Đại Chánh Tạng quyển 19, kinh số
967), Đại Nhựt Kinh Sớ (do ngài Nhất Hạnh trứ
tác, Đại Chánh Tạng quyển 39, kinh số 1796 gồm 20
quyển), Mấy Điệu Sen Thanh (lược dịch Tịnh
Độ Thánh Hiền Lục), chú giải 100 bài kệ Niệm
Phật của Tổ Triệt Ngộ, Liên Tông Thập Tam Tổ,
Tam Bảo Cảm Ứng Yếu Lược Lục,
Nhơn Quả Luân Hồi Tạp Lục Kư, Tây Phương
Nhật Khóa và nhiều bản kinh Mật Tông quư giá khác.
Tháng Giêng năm 1989, nhận biết
thân mẫu ḿnh sắp măn phần, Ḥa Thượng đă cho
người đón mẹ lên Phương Liên Tịnh Xứ
để dùng phương tiện thiện xảo khuyến
hóa mẹ nhất tâm niệm Phật. Ngày mồng 2 tháng 5, cụ
bà đến chào từ biệt Ḥa Thượng để
đi xa. Biết mẹ đă biết trước ngày quy tịch,
ngày hôm sau, Ḥa Thượng đă nhóm chúng hộ niệm cho
cụ. Đến 12 giờ trưa ngày 3 tháng 5, cụ bà đă
ngỏ lời chào vĩnh bệt và thoát hóa trong tiếng niệm
Phật của đại chúng, thọ 98 tuổi.
Kể từ năm 1989, thân tứ
đại của Đại Sư đă không điều ḥa,
nhưng Đại Sư cương quyết khước từ
bao lượt thỉnh cầu về Sài G̣n chữa bịnh
của các môn đồ. Dù thân bịnh trầm kha, Đại
Sư luôn tinh tấn và tùy cơ nhiếp hóa chúng sanh không mệt
mỏi. Mồng Hai tháng Tám năm 1992, biết trước
ngày văng sanh, Ḥa Thượng đă viết di chúc dặn ḍ hậu
sự và chính thức chỉ định Ni Sư Thanh Nguyệt
làm trưởng tử và là người chịu trách nhiệm
chính lo liệu hậu sự cho Đại Sư vào ngày 12 tháng
10 năm 1992 để tránh những tranh chấp có thể
xảy ra sau khi Ḥa Thượng viên tịch. Trong di chúc, Ḥa
Thượng dặn các môn nhân hoặc bỏ xác ngài trong rừng
hoặc quăng xuống vực thẳm để thí cho
các loài chim, thú, thủy tộc; hoặc bó chiếu chôn sâu,
khỏa bằng, trên trồng thơm chuối. Cùng lắm
là đóng sơ mấy tấm gỗ tạp, trong độn
lá chuối, trên để tấm pháp y, xây ngôi mồ cỏ
đơn sơ. Trên mộ, dựng tấm bia: “Bất huệ
nạp tăng Thích Thiền Tâm hiệu Vô Nhất mai cốt
xứ” (Chỗ vùi xương của ông sư thiếu trí
huệ là Thích Thiền Tâm hiệu Vô Nhất).
Đêm 20 rạng 21 tháng 11 năm Nhâm
Thân 1992, Đại Sư tŕ niệm suốt buổi trước
bàn Phật. Đến 3 giờ sáng, sư sai ni sư thị giả
triệu đại chúng nhập thất hộ niệm. Đại
Sư thay y hậu tề chỉnh, an tọa ngồi niệm
Phật giữa tiếng hộ niệm tha thiết của
đại chúng. Đại Sư an ủi:
- Hăy b́nh tâm lại, đừng
có khóc nữa. Ta được về Tây là điều hân
hạnh, các con hăy theo đó mà cố gắng niệm Phật
chuyên cần. Nếu được như vậy, ắt một
ngày kia sẽ cùng hội ngộ nhau nơi miền An Dưỡng.
Rồi ngài đọc kệ thị
tịch:
Đời ta chí gởi chốn Liên
Tŕ
Trần thế vinh hư sá kể
ǵ
Bốn tám năm dài chuyên lễ
niệm
Mừng nay được thấy đức
A Di.
Nói
xong, Đại Sư yên lặng nhập định. Đến 6
giờ 15 phút, Đại Sư bỗng mở mắt, chắp tay nói:
- Ta
đi đây! Đại chúng nên bảo trọng.
Rồi
tay vẫn kết ấn Di Đà định,
an nhiên tọa hóa quy
Lễ
di quan, nhập tháp hoàn tất vào khoảng 8 giờ sáng ngày
25 tháng 11 năm Nhăm Thân (tức 18 tháng 12 năm 1992).
Trong lễ khai mộ vào ngày 21 tháng 12, 1992, đại chúng
thấy có một cặp rắn vàng óng ḅ đến nằm
trước mộ một lúc lâu, rồi ngẩng đầu,
gật đầu chào ni sư Thanh Nguyệt ba lần
trước khi ḅ mất dạng. Theo các môn nhân, đó là cặp
vợ chồng rắn đă từng quy y với Ḥa Thượng
trước kia. Đại Sư có lưu lại
một kim cang nha xỉ xá lợi (tức
là một cái răng rất chắc chắn, sáng đẹp,
không ai cưa cắt nổi).
Xét công
hạnh, Đại Sư không những chỉ giáo hóa bằng
ngôn giáo mà c̣n bằng cả thân giáo. Bao nhiêu người nhờ
vào những tác phẩm của ngài hay được gặp
gỡ ngài mà được lợi lạc nơi pháp môn Tịnh
Độ. Điểm qua những dịch phẩm và trước
tác của ngài, điểm nổi bật là một tŕnh
độ Phật học uyên thâm, một mức độ
hiểu biết sâu xa các nền triết học ngoài Phật
giáo được tŕnh bày bằng một văn pháp giản
dị, chính xác, trong sáng, trau chuốt, nhẹ nhàng, thanh
thoát, bóng bảy nhưng không hoa mỹ, cầu kỳ, ư tứ
thâm trầm nhưng dễ hiểu. Có nhiều đoạn
Đại Sư chỉ dịch ư để cho hàng hậu học
dễ lănh hội được ư nghĩa của từng
văn bản cổ thay v́ bám chặt theo mạch văn khiến
cho người đọc có cảm giác những tác phẩm
ấy vừa được viết ngay trong thời đại
này, thay v́ đă được viết ra vào thời Đường,
thời Tống cách đây cả ngàn năm.
Có
đọc những dịch phẩm ấy, ta mới thấy
kiến văn của Đại Sư vô cùng quảng bác, không
những chỉ đọc hết những kinh điển
Tịnh Độ trong Đại Tạng và Tục Tạng, Đại
Sư c̣n đọc rất nhiều tác phẩm Tịnh Độ
cận đại nữa. Tuy chuyên chú nơi Tịnh Độ,
Đại Sư vẫn bác lăm các kinh điển của chư
Tông, mà điển h́nh nhất là Đại Sư đă
được cung thỉnh dạy môn Duy Thức cho học
tăng và sinh viên ngành Phật Học tại Đại Học
Vạn Hạnh khi c̣n rất trẻ.
Không những
là một vị tôn sư của Tịnh Độ, Vô Nhất
Thượng Nhân c̣n là một hành giả thành tựu trong
Kim Cang Thừa. Tuy chỉ dùng Mật chú làm trợ hạnh
để hỗ trợ cho Tịnh nghiệp, Đại Sư
đă đạt những thành tựu lớn lao
trong Mật tông. Rất nhiều hành giả Mật
Tông được pháp ích khi đến cầu học với
ngài. Qua những dẫn giải thi thoảng đây
đó trong các tác phẩm giảng dạy về Tịnh Độ,
ta thấy Vô Nhất Thượng Nhân là một trong số
rất ít những đại sư thâm hiểu tột cùng
giáo pháp phức tạp, vi diệu của Đông Mật, nhất
là hai hệ thống giáo nghĩa Kim Cang và Thai Tạng. Cùng với
A Xà Lê thượng Viên hạ Đức, Đại Sư Thiền
Tâm được xưng tụng là tối thượng
Kim Cang A Xà Lê của Mật tông Việt Nam. Khi chọn các bản
kinh Mật Tông để dịch, Ḥa Thượng cũng
thận trọng chọn lấy những bản hoàn chỉnh
nhất để dịch và chú giải tỉ mỉ khiến
cho dịch phẩm của ngài dễ hiểu, dễ thực
hành, vượt xa các dịch phẩm của những vị
hoằng truyền Mật tông khác.
Thị
hiện chỉ 68 năm trên cơi trần gian này và thực sự
hành hóa chỉ 42 năm nhưng Đại Sư đă đóng
góp rất lớn lao vào kho tàng văn hóa Phật Giáo Việt
Nam. Chỉ bằng những tác phẩm của ḿnh, Đại
Sư đă hóa độ bao nhiêu tứ chúng hữu duyên, huống
hồ là những ai có cơ duyên gặp gỡ, đích thân
lănh thọ sự giáo hóa của ngài. Thế
mà, Đại Sư vẫn khiêm tốn chỉ xưng ḿnh là Vô
Nhất, lấy ư từ câu “Nhất sự vô thành, thân tiệm
lăo” (không có chuyện ǵ làm cho ra hồn hết mà thân đă
già dần mất rồi). Đức hạnh, phong thái
khiêm tốn ấy càng làm cho tứ chúng ngưỡng mộ,
khâm kính. Ngưỡng mong hàng Phật tử Việt Nam ta sẽ
luôn được giác linh ngài thầm gia hộ, d́u dắt
để cùng được hội ngộ chốn Lạc
Bang.
(Tài liệu
tham khảo chính: Vô Nhất Đại Sư Thích Thiền Tâm, một
cao tăng cận đại của Bảo Đăng do chùa
Pháp Hoa ấn hành)
Phụ lục:
Khuyến
Tu
Ḥa
Thượng Thích Thiền Tâm soạn dịch
Xưa
Nhan B́nh, Như Như cư sĩ,
Dẫn
luận kinh, ư ư khuyên cầu
Bút nhàn
khuyên giữa canh thâu
T́nh ai
trần lụy, đổi sầu làm tươi
*
Thân bào
ảnh lắm người yêu tiếc
Yêu quư
thân cho lụy v́ thân
Cuộc
vui những ước vô ngần
Nào hay
vui vẫn là nhân chác sầu!
Kiếp
phù thế bóng câu cửa sổ (1),
Vóc huyễn
hư giọt lộ ḷng hoa (2)
Đôi
mươi trẻ, tám mươi già
Số
người yểu thọ, khó qua vô thường
Dép
dưới giường, trên giường bỗng biệt
Sống
ngày nay dễ biết ngày mai
Mạng
người hô hấp cho hay,
Nghĩ
cơn vĩnh biệt, tuyền đài mà đau!
Xót
duyên kiếp v́ sao ngắn ngủi
Chấp
thân chi để tủi cho thân,
Da bao
những thịt, xương, gân
Xác
người như thể đống phân sạch ǵ!
Tóc,
răng, móng khác chi đất bợn
Mũi,
dăi, đờm ghê tởm xiết bao
Bên
ngoài rệp đút, muỗi đeo,
Bên
trong sán, lải lẫn vào nhớp chưa?
Nỗi
nóng bức, ngày trưa tiết Hạ
Cơn
lạnh lùng, đêm giá trời Đông
Xét thân
nhơ khổ vô cùng,
Xả
ḷng tham luyến, khởi ḷng thoát ly
*
Trách
người thế mê chi lắm nhẽ!
Sánh phong lưu phô vẻ y quan!
Kẻ khờ cũng học
đài trang
Để ḷng điên đảo theo
đàng sắc thanh
Đầu xương sọ: cài
trâm, thắt lụa
Đăy da hôi: ướp xạ, xông
hương
Khéo đ̣i nhung gấm phô
trương
Chỉ tuồng che lớp vô
thường hôi tanh
Những mảng tưởng
ngày xanh muôn tuổi
Lắm cơ mưu theo đuổi
yên hoa
Ngờ đâu tai điếc, mắt
ḷa,
Diêm Vương sắp rước
đến ṭa U Minh
Làn tóc bạc đưa tin quỷ
sứ
Gốc răng long nhắn ư quy
âm,
Càng tài, càng sắc, càng dâm
Càng cho đọa lạc, càng lầm
mà thôi,
Cuộc hành lạc một đời
tham tiếc
Nẻo luân hồi muôn kiếp
đắng cay
Đến khi sắp xuống Diêm
Đài
Thịt xương đau nhức,
chân tay rụng rời,
Vợ lưu luyến đầy
vơi giọt lệ
Con tiếc thương kể lể
khóc than
Dầu cho quyến thuộc muôn
ngàn
Có ai thay thế cho chàng được
đâu!
*
Kẻ sống ở nặng oằn
gánh tủi,
Người chết đi rong ruổi
phách hồn
Đường âm mờ tựa
đêm hôm
Trông ra quạnh quẽ, bồn
chồn chỉn ghê!
Nại Hà đến lạnh tê
gió lốc,
Quỷ Môn Quan ghê gốc tiếng
thương
Bảy ngày ĺa quá cơi dương
Âm ty đă trải trăm
đường khảo tra.
Tào quan xử thét la chẳng vị,
Ngục tốt hờn, xoa, chủy
đâu tha.
Đài gương Nghiệp Cảnh
chói ḷa
Soi tường thiện, ác chối
qua được nào.
Người nhân đức
đưa vào cơi phước
Kẻ hung hoang giải trước
h́nh ty,
Đọa đày thảm khổ xiết
chi,
Mới hay nhân quả mấy khi
sai lầm
Rừng đao kiếm bao năm
hết tội
kiếp lông sừng nhiều nỗi
đa mang,
Trả đền cho dứt nghiệp
oan
Mới
mong thoát khỏi con đàng long đong
Dù ai có
to ḷng, lớn mật
Mặc
chàng hay báng Phật, khinh Tăng,
Chẳng
qua đối trước Diêm quân
Cúi
đầu, co gối chịu phần khảo tra
*
Hồn
phách đă xa chơi âm giới
Thi hài
c̣n nơi cơi dương gian
Có tiền
mua lớp áo quan
Không tiền
vùi chốn núi hoang lạnh lùng
Chất
da thịt sẽ lần tan ră,
Tấm
h́nh hài lần hóa tanh hôi
Chỉ
trong hôm sớm mà thôi
Chầy
năm bảy bữa, sớm thời ít hôm,
Nét kiều
diễm chập chờn xuân mộng
Kiếp
tài hoa h́nh bóng bạch vân
Khi
xưa tài sắc mười phân,
Mà nay một
nấm cô phần lạnh tanh,
Thời
oanh liệt, anh hùng đâu tá?
Nỗi
ái ân hư giả c̣n ghi!
Phất
phơ cành liễu xanh ŕ
Giấy
tiền treo đó dường ghi mối sầu
Bóng chiều
rủ xuống màu cỏ biếc
Bia mồ trơ
một chiếc vắng không
Nghĩ
thôi rơi lệ chạnh ḷng
Đời
người đến thế là xong cuộc đời
*
Ví chẳng
biết t́m nơi giải thoát
Nương
về ngôi Chánh Giác quy y
Luân hồi
dứt hẳn có khi
Bên trời
Bát Nhă c̣n chi lo phiền
Lối
ma quỷ đừng riêng sinh sống
Đất
từ bi có giống hoa đàm
Giữ
ḷng thiện, dứt ḷng tham,
Gái,
trai, tăng, tục đều ham tu hành
Rơ cảnh
mộng chớ quanh đường mộng,
Biết
miền chơn hăy chóng tu chơn,
Dần
dà tính thiệt, so hơn
Tuổi
xuân qua mất để hờn về sau
Sáu chữ
Phật cùng nhau gắng niệm
Chín phẩm
đài sen chiếm ngôi vinh,
Chớ
nên ḿnh phụ lấy ḿnh
Trách
sao Diêm lăo vô t́nh chẳng dung!
Bỏ
điều ác xin cùng tu thiện,
Chừa
lỗi xưa, cải tiến đường sau
Lại
v́ quyến thuộc bảo nhau
Cùng
khuyên già trẻ sớm mau tu tŕ
Khiến
mỗi kẻ đồng quy bến giác
Cho mọi người đều thoát
sông mê.
Dù cho lao khổ dám nề,
Đài sen
đốt mảnh hương thề nguyền xin…
Xin dốc
tưởng tin theo lời Thánh
Đừng
để cho rỗi rảnh, ưu du
Kiếp
này nếu chẳng chuyên tu,
Chỉn
e kiếp khác công phu lỡ làng []
(1) Lấy ư từ
câu: “Nhân sinh như bạch câu quá khích” (Đời người
như bóng con ngựa trắng chạy vọt qua khe cửa
hẹp).
(2) Giọt lộ
ḷng hoa: Giọt sương đọng trên cánh hoa, chốc
lát tan mất.