Tư Tưởng Nhân Quyền Của Tộc Việt

 

Trúc Lâm Lê An B́nh

 

I/ Dẫn Nhập:

Một phần tư thế kỷ trôi qua dân ta sống trong t́nh trạng mà quyền làm con người đă không hề có được trên thực tế. Cái quyền làm con người, từ ngàn xưa đă được tổ tiên ta vun bồi quén đắp một cách thận trọng trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Nó đă góp phần gầy dựng nên bản sắc đặc biệt của dân tộc Việt Nam. Bản sắc này có lúc gọi là Tâm Thức Việt, đôi khi là truyền thống Văn Hiến Chi Bang. Ngày hôm nay khi cộng sản Việt Nam chiếm trọn quyền cai trị đất nước, họ đă phủ nhận tất cả rồi lư luận «nhân quyền Việt Nam (hay Á châu) khác với nhân quyền Tây phương» để viện cớ cho sự đàn áp các đ̣i hỏi nhân quyền của dân tộc Việt Nam. Đây là một điều nghịch lư khó thể chấp nhận được! Nói như vậy chẳng khác nào phủ nhận cả nền văn hiến đă hiện diện 4883 năm lịch sử của dân tộc. Tiểu luận này được soạn thảo hầu làm sáng ngời chính nghĩa của công cuộc đ̣i hỏi Quyền Làm Người của dân tộc Việt Nam ở trong và ngoài nước.

 

II/ Cách Nh́n Và Cung Cách Hành Xử Của Người Xưa:

Từ những lúc dân tộc Bách Việt c̣n sinh sống rải rác ở vùng núi Ngũ Lĩnh – hồ Động Đ́nh cho đến khi xây dựng nên những triều đại hiển hách như dưới các thời Lư Trần và cho đến ngày hôm nay, giống dân Bách Việt của hơn 4500 năm lịch sử vẫn tồn tại để trở thành dân Việt Nam, dù phải trải qua muôn ngàn khó khăn, thử thách, đặc biệt vào những năm cuối cùng của thế kỷ 19 đến cuối thế kỷ 20 mà vẫn duy tŕ được Tâm Thức Việt, nét đặc thù truyền thống của giống ṇi. Nét đặc thù này đă thể hiện một cách rơ nét vào những lúc cần phải kiên cường chống ngoại xâm cũng như đă làm hưng thịnh cho xứ sở.

 

Như lịch sử ghi chép vào năm 40 sau Tây lịch, Hai Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị khởi nghĩa ở quận Mê Linh chống lại sự cai trị tàn ác của thái thú Tô Định. Hai Bà đă thành công đánh đuổi giặc Tàu và thu về khoảng 65 thành tŕ các nơi, sau đó xưng Vương đóng đô ở Mê Linh.

 

Mấy thế kỷ sau, vị Tổ thứ sáu của Thiền tông Đông độ là ngài Huệ Năng sinh ở Tân Châu thuộc Lĩnh Nam vào khoảng thế kỷ thứ 6. Khi đến cầu học đạo với vị Tổ thứ năm là Ngài Hoằng Nhẫn, Tổ nói: «ông là người Lĩnh Nam, là người mọi làm sao có thể làm Phật». Ngài Huệ Năng liền đáp: «Người tuy có Bắc, có Nam, nhưng Phật tánh vốn không có Nam, Bắc, thân quê mùa này cùng ḥa thượng chẳng đồng, nhưng Phật tánh đâu có sai khác». Sau khi đắc pháp, ngài Huệ Năng được ngũ Tổ Hoằng Nhẫn truyền trao áo cà sa và b́nh bát trở thành vị Tổ thứ 6 của Thiền tông, theo lời khuyên của ngũ Tổ, Ngài Huệ Năng về lại Lĩnh Nam để truyền bá Thiền tông, và thị tịch khoảng năm 713.

 

Đầu thế kỷ thứ 10, năm 1010 Lư Công Uẩn lên ngôi hoàng đế lấy hiệu là Lư Thái Tổ và niên hiệu là Thuận Thiên, việc làm đầu tiên của ngài là phóng thích các loài chim muông thú vật và c̣n công bố trong dân nếu ai có sự ǵ oan ức muốn kiện tụng th́ đến thẳng hoàng cung đưa đơn và đích thân nhà vua sẽ giải quyết.

 

Khi dời đô từ thành Hoa Lư về thành Đại La thấy điềm rồng bay lên, ngài đổi tên là Thăng Long tức Hà Nội ngày nay. Trong chiếu dời đô, Lư Thái Tổ đă thống trách các triều trước (triều Đinh và tiền Lê) đă không thuận theo lẽ tự nhiên của đất trời cùng lợi ích của toàn dân mà đóng đô ở trung tâm trời đất để cho vận nước được lâu dài, nhân dân luôn no ấm. Cho nên ngài rất xót xa và không thể không dời đô về thành Đại La là kinh đô cũ của Cao Vương xây dựng lúc ông làm Đô hộ sứ Giao Châu từ năm 884 đến năm 875. Đây là một địa điểm thuận lợi muôn bề có thể duy tŕ quốc vận lâu dài cũng như khiến cho xứ sở hưng thịnh.

 

Một năm sau, 1011 vua Lư Thái Tổ ban lịnh đại xá trong toàn quốc, đồng thời cấp phát quần áo thuốc men và cho về quê cũ làm ăn sinh sống những người đă bị Lê Ngọa Triều bắt giữ. Song song ông đă xóa nợ thuế trong 3 năm cho cả nước. Và 3 năm sau, vua lại xuống chiếu miễn thuế ruộng cho người dân. Năm 1014 trong lúc mở hội La Hán ở Long Tŕ, vua Thái Tổ đă xuống chiếu tha tội cho những người bị đày và bị tội đồng thời tha phân nữa thuế cho cả nước. Năm 1017 tha thuế ruộng cho nông dân, năm 1018 tha phân nữa thuế ruộng cho cả nước. Nhất là những năm mất mùa, hạn hán, đói kém đều được triều đ́nh chú ư giúp đỡ hoặc mở kho phân phát tiền gạo cho dân v.v…

 

Năm 1042 vua Lư Thái Tông ban hành bộ H́nh Luật. Đây là một sự cải cách quan trọng trong luật pháp thời nhà Lư. Trong bộ H́nh Luật này cách hỏi cung người có tội cũng được điều chỉnh, minh định các trường hợp gia giảm cùng khoan hồng cho những người già yếu tuổi từ 70 trở lên và thanh thiếu niên tuổi từ 15 trở xuống. Cũng như những người bịnh tật đau yếu hay trong người có tang từ 1 năm trở lại và hơn nữa c̣n cho phép lấy tiền chuộc tội. Trong triều đại của Lư Thái Tông năm 1054 nước ta đổi quốc hiệu là Đại Việt để khẳng định nền độc lập và tự chủ của xứ sở với triều đ́nh nhà Tống phương Bắc.

 

Ruộng đất vốn là của vua, nếp suy tư này đă in sâu vào tâm trí của nông dân thời đó. Tuy nhiên bên cạnh điều này vẫn có những ruộng đất tư do nông dân tự canh tự quản và do các làng xă phân phối lại cho họ. Mức thuế được triều đ́nh quy định là 100 thăng (hay thưng) thóc cho mỗi mẫu. Vua Lư Thái Tông c̣n hạ lệnh cấm giết trâu ḅ vào năm 1042 để cho nông dân bớt phần cực nhọc và tăng gia số lượng thóc lúa hơn nữa. Có một chi tiết không thể nào bỏ qua đó là việc đắp đê để ngăn ngừa lụt lội, trong đó có đê Cơ Xá được đắp vào năm 1168. Mục đích đắp đê là để giữ cho ruộng đất được màu mỡ, nông dân không bị mất mùa, đói kém, đồng thời đảm bảo sự sinh hoạt ổn định của người dân.

 

Vua Lư Thánh Tông vào năm 1065 lúc ngồi xử kiện ở điện Thiên Khánh đă nói rằng ta rất thương yêu con ta (chỉ vào công chúa Động Thiên đang đứng hầu bên cạnh) như thế nào th́ các bậc cha mẹ khác cũng thương yêu con của họ như vậy. Ta thương xót cho dân chúng v́ không hiểu rơ luật pháp nên đă phạm tội, nên đối với những người dù có tội nặng hay nhẹ nên xử án cho có chừng mực.

 

Thời nhà Lư công nghiệp tay chân đă được phát triễn tốt đẹp, xưởng Bách Tác được thành lập để chế tạo binh khí, đồ trang sức, đóng thuyền, đúc chuông, tạo tượng, xây cất đền đài v.v…Những người làm trong đó đều là những thợ giỏi được tuyển chọn từ dân gian. Các cung điện, chùa chiền, tượng chuông được thực hiện rất nhiều trong các triều nhà Lư là một minh chứng cụ thể cho tay nghề của những người làm trong xưởng Bách Tác.

 

Để tiện việc buôn bán triều đ́nh nhà Lư đă cho đúc tiền để trao đổi trong dân gian, song song c̣n cho vét kinh, đắp đường, làm cầu, các hệ thống trạm dịch mở tận lên phía Bắc đến biên giới Trung Hoa, về phía Nam tận đến nước Chiêm Thành. Năm 1035 triều đ́nh mở chợ cửa Tây, sau đó mở chợ cửa Nam của thành Thăng Long khiến cho sự giao thương của dân chúng rất tiện lợi và phồn thịnh.

 

Về mặt giáo dục và thi cử triều đ́nh đă tạo điều kiện thuận lợi cho những người có tài ra giúp nước, cũng như các hệ tư tưởng khác nhau có dịp thi thố phát triễn đồng đều, như vào năm 1070 vua Lư Thánh Tông cho xây Văn Miếu thờ Khổng Tử ở mặt Nam thành Thăng Long; vua Lư Nhân Tông c̣n mở các khoa thi giúp đỡ các sĩ tử Nho giáo có cơ hội thi thố tài năng giúp nước; năm 1075 mở khoa thi Tam Trường, đây là mở đầu cho nền đại học vào thời đó.

 

Trong thời nhà Trần, v́ bất măn sự lộng quyền của Trần Thủ Độ nên vua Trần Thái Tông đă bỏ ngôi vua lên núi Yên Tử cầu học đạo với quốc sư Trúc Lâm. Trần Thủ Độ và triều đ́nh lặn lội lên núi cung thỉnh nhà vua về kinh lo việc nước, trước t́nh thế nan giải vua Thái Tông mới hỏi ư kiến của quốc sư và được ngài trả lời như sau: «Phàm là đấng nhân chủ, th́ phải lấy ư muốn của thiên hạ làm tâm của ḿnh».

 

Một bóng dáng khác thời nhà Trần mà ta không thể không nhắc tới đó là Hưng Đạo Vương. Nhờ văn tài vơ lược, ngài đă cùng với vua Trần Nhân Tông khéo léo lănh đạo công cuộc chiến đấu của dân ta chống lại quân Mông-cổ xâm lược đi đến thắng lợi sau cùng. Binh sĩ thời Trần đă khắc vào tay hai chữ Sát Thát, cũng như Trần Lai đă chia xẻ miếng cơm hẩm với vua Trần Nhân Tông khi vua chạy giặc ra Hải Đông. Trong lúc chiến đấu chống quân Mông Cổ, tuy rất cần lương thảo cho quân đội, nhưng nhà Trần vẫn được xem là có chính sách thuế khóa rất cởi mở. Ngoài ra thái độ đối với người phụ nữ cũng rất là khoan dung không giống những triều đại phong kiến khác.

 

III/ Cách Nh́n Và Hành Xử Cho Nhân Quyền Vào Thời Nay:

 

Ngày 4/7/1939, Đức Huỳnh Phú Sổ khai sáng đạo Phật Giáo Ḥa Hảo khuyên dân chúng tu hành theo đạo Phật và lấy Tứ Ân (gồm Ân Tổ Tiên Cha Mẹ, Ân Đất Nước, Ân Tam Bảo, Ân Đồng Bào Nhân Loại) làm bài học nhập môn cụ thể cho mọi tín đồ. Để rao truyền giáo lư, Đức Huỳnh Giáo Chủ đă không quản công sức lặn lội khắp vùng đồng bằng Cửu Long để trị bịnh cho người dân nghèo không có phương tiện và sau khi họ hết bịnh th́ Ngài mới giảng đạo cho họ nghe. Trước ngôi nhà nơi Ngài hạ sinh có đề 4 chữ Quư Tiện Đồng Nghinh.

 

Nhân dịp đánh dấu 25 năm ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam, Ḥa thượng Thích Huyền Quang, Xử Lư Thường Vụ Viện Tăng Thống, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đă viết một bức thư dài 6 trang và gởi thẳng đến những người cầm đầu csvn đ̣i hỏi lấy ngày 30/04 làm Ngày Sám Hối và Chúc Sinh Toàn Quốc.

 

Ngày 3/12/2000 từ làng Nguyệt Biều, Thừa Thiên Huế, Linh mục Nguyễn văn Lư đă ra «LỜI KÊU GỌI CUỐI NĂM 2000 : CHÚNG TÔI CẦN CÓ TỰ DO TÔN GIÁO THẬT SỰ TẠI VIỆT NAM”, linh mục và giáo dân địa phương đă cương quyết tranh đấu đến cùng cho mục đích nêu trên. Ngày 4/12, Linh mục Lư đă viết tấm bảng «Chúng Tôi Cần Tự Do Tôn Giáo Thật Sự» và cắm xuống giữa 1500m² ruộng của đồng bào giáo dân. Việt cộng đă cử 20 công an tới t́m cách tháo gỡ tấm bảng đó xuống; chiều tối 4/12, công an vc lại đến để thương thuyết và thăm ḍ.  Linh mục Lư đă tuyên bố: Chúng tôi không dừng lại cuộc chiến, cho đến khi hoàn toàn thắng lợi.

 

Ngày 28/12/2000, một Bản Tuyên Bố Chung về Chính Sách Tôn Giáo Của Cộng Sản Tại Việt Nam đă được phổ biến trong và ngoài nước. Đứng tên chung trong Bản Tuyên Bố trên gồm có các vị như sau: 1/ Ḥa thượng Thích Thiện Hạnh, Trưởng Tăng đoàn Thừa Thiên, Huế, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất; 2/ Ông Lê Quang Liêm, Hội trưởng Trung ương Giáo hội Phật giáo Ḥa Hảo; 3/ Linh mục Chân Tín; 4/ Linh mục Tadéo Nguyễn văn Lư.

 

Ngày 21/02/2001, Ḥa thượng Thích Quảng Độ đă phổ biến Lời Kêu Gọi Cho Dân Chủ Việt Nam. Ḥa thượng Quảng Độ nhấn mạnh : «GHPGVNTN kế thừa truyền thống giáo lư và phương pháp hành động của đạo Phật Việt Nam, một truyền thống trải dài hơn 20 thế kỷ dựng nước và giữ nước, không thể tự thủ bàng quan trước thời cuộc nhiễu nhương, khủng hoảng trầm trọng, nhân dân lầm than, mất tự do, mất quyền làm người. Nên tâm thành cất lời kêu gọi chư vị thức giả, đồng bào các giới, không phân biệt chính kiến hay tôn giáo, các cấp giáo hội và nam nữ cư sĩ Phật tử vận dụng  mọi khả năng hiện có của ḿnh kết đoàn lại để thay đổi hiện trạng tồi tăm và nguy kịch của đất nước».

 

Từ làng An Truyền, Huế, ngày 13/02/2001, Linh mục Nguyễn Văn Lư đă phổ biến Lời Kêu Gọi Giải Thể Đảng Cộng Sản Để Cứu Nguy Tổ Quốc Việt Nam. Và Linh mục kêu gọi Hăy đoàn kết v́ chúng ta sắp toàn thắng trong Lời Kêu Gọi số 9 ngày 20/02/2001.

 

IV/ Tư Tưởng Nhân Quyền Của Tộc Việt:

 

Như trên đă tŕnh bày, nước Việt chúng ta từ hơn 2000 năm trước Tây lịch đă có khoảng không gian địa lư bắt nguồn từ hồ Động Đ́nh – núi Lĩnh Nam kéo dài cho đến đồng bằng sông Hồng Bắc Việt. Trải qua nhiều sự thay đổi của lịch sử, nước ta đă mang các Quốc hiệu như Văn Lang, Âu Lạc, Đại Cồ Việt, Việt Nam, và cũng tại nơi này đă là trung tâm giao tiếp của 2 nền văn minh cổ nhất Á châu. Đó là Trung Hoa và Ấn Độ. Trung Hoa từ phía Bắc xuống, Ấn Độ từ phương Nam lên. V́ vậy có lúc nước ta đă có quốc hiệu là Giao Châu.

 

Văn hóa Trung hoa có học thuyết Khổng Tử và Lăo Tử. Khổng Tử chú trọng các h́nh thức, khuôn khổ thế gian tức chủ trương CÓ; Lăo Tử thiên về xa lánh cỏi đời t́m sự tĩnh mịch, cho rằng thế gian này chẳng có ǵ đáng luyến tiếc nên bảo là KHÔNG. Văn hóa của Ấn Độ th́ có Phật giáo. Phật giáo chủ trương vượt ngoài CÓ và KHÔNG, t́m sự giải thoát ngay chính tâm hồn của mỗi người.

 

Tuy nhiên trước khi hai nền văn hóa Ấn Hoa truyền vào th́ Việt Nam đă có sẳn một nền văn hóa lâu đời. Nền văn hóa hay văn minh đó là Đông Sơn và Lạch Trường. Tựu trung hai nền văn minh Việt Nam này thể hiện qua việc thờ cúng tổ tiên, các vị anh hùng vị quốc vong thân; tôn kính các hiện tượng thiên nhiên như mưa, gió, sấm sét, v́ dân ta cho rằng mỗi hiện tượng như vậy đều có một vị thần chủ tŕ; các loại truyện cổ tích đều có những ư nghĩa sâu xa v.v…Tất cả những điểm vừa nêu đă góp phần tạo nên nền văn hóa, văn minh và cao hơn là Tư Tưởng riêng biệt của nước Việt Nam chúng ta thời bấy giờ.

 

Khi tiếp nhận các nền văn hóa Ấn Hoa th́ dân tộc ta đă dung hóa nó trở thành nền văn hóa dân tộc thật sự. Sự dung hóa của 3 nền văn hóa Việt-Ấn-Hoa đă tạo cho nước Việt một phong thái khác hẳn đối với các nước chung quanh, chính sự tổng hợp đó ta gọi là Tâm Thức Việt. Nhờ un đúc Tâm Thức này mà tổ tiên chúng ta đă có những hành xử giữa người và người mang t́nh tự dân tộc trong công cuộc cứu nước và dựng nước, như:

a/ Về sự tương quan giữa người và người:

¨       Năm 40 sau Tây lịch, nước ta vẫn c̣n ở chế độ Lạc hầu Lạc tướng. Chưa có h́nh thức của một quốc gia với chế độ được tổ chức từ trung ương đến địa phương, và hơn hết c̣n theo chế độ mẫu hệ (tức người phụ nữ làm chủ gia đ́nh). Một trong những Lạc tướng thời đó là ông Thi Sách vốn là phu quân của bà Trưng Trắc, ông bị thái thú Tô Định là người đang cai trị nước ta lúc bấy giờ sát hại. Để trả thù nhà, đáp nợ nước, Bà Trưng Trắc cùng người em là Trưng Nhị hô hào dân chúng các nơi đứng lên khởi nghĩa lấy lại chủ quyền xứ sở từ tay quân chiếm đóng Trung Hoa. Lập tức Hai Bà Trưng đă được nghĩa quân các nơi tôn làm thủ lănh và tiếp đó đoạt được 65 thành tŕ về tay trong thời gian ngắn, đồng thời Tô Định cũng bị giết chết trong các trận giao tranh. Sau đó Hai Bà xưng Vương và đóng đô ở Mê Linh. Sự kiện nghĩa quân các nơi đă hưởng ứng một các nồng nhiệt lời kêu gọi khởi nghĩa, đồng thời họ tôn Hai Bà Trưng làm thủ lănh, sau đó là Vương, hành động này thể hiện tinh thần – Nam Nữ B́nh Quyền -, đây cũng là điểm tinh yếu, được thể hiện qua câu – B́nh Đẳng Phật Tánh – của Phật giáo lần đầu tiên cách đây gần 2000 năm về trước, khi mà đại đa số nhân loại c̣n ch́m đắm trong thời trung cỗ man dă. Khuynh hướng các nước Á châu thời bấy giờ là trọng nam khinh nữ; qua sự kiện vừa nêu cho ta thấy là người nam có thể làm Tướng, làm Vương, th́ người nữ cũng có thể cáng đáng nổi. Miễn sao là có thực tài và đức độ. Hai Bà Trưng là biểu hiện rơ nét của hai đức tính vừa nêu, nên đă thành công trong việc huy động quần chúng đánh đuổi quân chiếm đóng Trung Hoa.

 

So sánh với nước ta, th́ nước Pháp lúc đó c̣n chưa có triều đại vua chúa nào cả, triều đại đầu tiên được ghi nhận là vua Clovis của nước này chỉ vào năm 481 sau Tây lịch. Và măi đến những thập niên 50, 60 b́nh đẳng nam nữ mới được đề cập tới; c̣n quyền ứng cử các trách vụ công quyền th́ măi đến năm 2000 mới được ban hành.

¨      

Là vị Tổ thứ hai mươi tám của Thiền tông Phật giáo, ngài Bồ Đề Đạt Ma đă trở thành vị Tổ đầu tiên của Thiền tông Trung hoa khi đến nước này truyền bá Phật giáo. Áo cà sa và b́nh bát được truyền tới đời thứ 5 là ngài Hoằng Nhẫn, th́ ở phương Nam có cư sĩ Huệ Năng tới cầu học Pháp. Lúc đó vào khoảng thế kỷ thứ 6 nước ta c̣n nằm trong ṿng đô hộ của Trung Hoa, nên với cái nh́n của người phương Bắc, dù ngài Hoằng Nhẫn là người xuất gia đắc đạo, đă nói với cư sĩ Huệ Năng rằng:  Ngươi là mọi phương Nam làm sao cầu thành Phật được? Ngài Huệ Năng là người sinh trưởng ở phương Nam thấm thía cảnh quốc gia bị nô lệ, đồng thời là người có cái nh́n sâu sắc về Phật giáo, mặc dù ngài chưa được học ǵ cả. Hơn nữa ngài muốn khẳng định sự b́nh đẳng giữa người và người, đặc biệt giữa người phương Bắc (Trung Hoa) đang cai trị người phương Nam (Việt Nam), ngài nói: «Người th́ có Bắc có Nam, tôi và hoà thượng tuy h́nh thể bất đồng nhưng Phật tánh vốn không có phân biệt Bắc Nam». Phật tánh đây ư nói tâm linh giác ngộ của mỗi con người, nếu được phát triễn ra bên ngoài nó sẽ trở nên những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại, c̣n nếu phát triễn ngược lại vào bên trong th́ trở nên người thẫm thấu lẽ huyền dịu của tâm linh, với Ngài Huệ Năng là một thí dụ điển h́nh. Ở hoàn cảnh và vị thế đó mà ngài Huệ Năng vẫn dơng dạc đưa ra quan niệm – B́nh Đẳng Giữa Người và Người – xa hơn nữa là – B́nh Đẳng Phật Tánh - của ḿnh khiến cho chúng ta là những thế hệ sau rất cần phải suy gẫm cũng như t́m hiểu về bối cảnh xuất hiện của ngài.

 

Ngài Huệ Năng sau khi đắc pháp và được ngũ tổ Hoằng Nhẫn truyền trao áo cà sa và b́nh bát đă trở thành vị Tổ thứ sáu. Ngài có viết quyển Pháp Bảo Đàn Kinh, trong lời tựa tự xưng ḿnh là người phương Nam, là người Lĩnh Nam, tức là người Việt Nam. Từ lâu giới trí thức Trung Hoa gượng ép và nói rằng Ngài là người Trung Hoa, khiến cho nhiều người trong chúng ta lầm tưởng là thế nhưng thực tế không phải là vậy. Điểm này rất quan trọng v́ người viết muốn đề cập tới yếu tố chủng tộc để xác định xuất xứ của tác giả về quan niệm – B́nh Đẳng Giữa Người Và Người – mà Ngài Huệ Năng đă phát biểu cách đây 14 thế kỷ về trước. (Hơn nữa trong khoảng thế kỷ thứ 5 và 6 có sự xuất hiện 6 lá thư của Lư Miễu Giao Châu gởi cho pháp sư Đạo Cao và Pháp Minh, nội dung đặt vấn đề Phật giáo thần quyền có thật hay không. Bối cảnh xuất hiện của 6 lá thư đó là lúc nước ta tuy nằm trong sự đô hộ của người Tàu, nhưng thực tế lại được cai trị bởi vị vua người Việt).

 

Ở Pháp khoảng 12 thế kỷ sau, đêm 4 tháng 8 năm 1789, trong Tuyên Ngôn Nhân Quyền được công bố sau khi cuộc phá ngục Bastille thành công ngày 14 tháng 7 đă làm lung lay vương triều của vua Louis 16, th́ sự – B́nh Đẳng Giữa Người Và Người – mới được công nhận.

 

Và phải đợi đến ngày 10 tháng 12 năm 1948, quan niệm này mới trở thành phổ quát trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền được Liên Hiệp Quốc công bố, nghĩa là sau ngài Huệ Năng đến 14 thế kỷ. Đó là chưa đề cập đến Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ được công bố vào ngày 4 tháng 7 năm 1776 bởi George Washington, cũng đưa lên ư niệm b́nh đẳng này làm châm ngôn lập quốc.

¨      

Vào năm 1939, thế kỷ 20, người dân VN, đặc biệt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, đă chứng kiến sự h́nh thành của một tôn giáo hoàn toàn do người VN sáng lập. Đó là Phật giáo Ḥa Hảo. Bậc sáng lập là Đức Huỳnh Phú Sổ.

 

Khai sinh trong bối cảnh nhiễu nhương của đất nước thời thực dân Pháp cai trị, PGHH đă nhanh chóng chiếm được cảm t́nh của đại đa số nông dân cùng đồng bằng sông Cửu Long. Phật giáo Ḥa Hảo chủ trương lấy giáo lư Tứ Ân làm nền tảng tu hành, do nền tảng đó PGHH đă trở thành một tôn giáo mang màu sắc cách mạng dân tộc. Để rao truyền giáo lư, Đức Huỳnh Giáo Chủ đă dùng sự trị bịnh làm phương tiện tiếp xúc với quần chúng, sau khi người dân hết bịnh Ngài mới nói giáo lư. Giáo lư của ngài là những bài thơ vần dễ đọc dễ nhớ đối với mọi người.

 

Như đă nói ở trên vào thập niên 30 hay nói chung những năm tháng dân ta bị thực dân Pháp cai trị, đặc biệt là những nông dân chân lấm tay bùn đă bị đối xử vô cùng tệ bạc không cách nào ngóc đầu lên được. Để nói lên ư nghĩa giữa người và người đều b́nh đẳng, Đức Huỳnh Giáo Chủ đă chủ trương Quư Tiện Đồng Nghinh, nghĩa là đối với người nghèo kẻ giàu cũng đều được tiếp đón một cách b́nh đẳng không có sự phân biệt nào cả và bốn chữ này đă được để phía trước nhà nơi ngài đản sanh. Quan điểm này được đưa ra từ một nơi ruộng đồng, thiếu vắng phương tiện thông tin, và từ một người ít học về mặt thế gian nhưng đă giác ngộ lẽ nhiệm màu của đạo lư xuất thế. Nói đến đây ta thấy được sự tương đồng giữa Ngài Huệ Năng và Đức Huỳnh Giáo Chủ, quan niệm b́nh đẳng này được đưa ra từ 2 vị vốn xuất thân là ít học được những ǵ của thế gian nhưng đă thẫm thấu được lẽ huyền dịu của xuất thế gian, và sau đó một vị trở thành vị Tổ thiền tông thứ 6, c̣n vị khác là giáo chủ của một tôn giáo. 

 

b/ Về sự tương quan trong xă hội, giữa chính quyền và nhân dân cũng như đối với người ngoài:

¨       Thời nhà Lư là một trong những triều đại hưng thịnh nhất của nước ta trong hơn 4000 năm dựng nước. Khi chưa lên ngôi vua, Lư Công Uẩn là người được thiền sư Vạn Hạnh nuôi dưỡng trong giáo lư của nhà Phật. Chính sự hấp thụ tinh thần Cứu Khổ Ban Vui của Phật giáo, cũng như để gây phước vận lâu dài cho triều đại, vua Lư Thái Tổ đă ra lệnh phóng thích các loại chim muông cầm thú được trở về với đời sống thiên nhiên của chúng khi vừa mới lên ngôi trị v́ thiên hạ. Ngoài ra, các thời Lê Ngọa Triều, Lê Long Đĩnh trước khi nhà Lư dựng nghiệp th́ đời sống dân chúng đă quá cơ cực lầm than, nên nhà vua muốn được thấy tận mắt, nghe tận tai những oán thán của dân chúng, ngài đă ra chiếu cho phép người dân muốn khiếu nại hoặc kiện tụng ǵ th́ đến tận hoàng cung và đích thân vua ngồi xử. Cử chỉ này của vua Lư Thái Tổ đă mang một một ư nghĩa hết sức đặc biệt. Nó đă tượng trưng cho tinh thần dân chủ tuyệt đối trong một chế độ gọi là phong kiến đương thời. Cái tinh thần dân chủ đó đă đi ra ngoài khuôn khổ sự liên hệ giữa một vị vua đứng đầu triều đại với những người dân trong xă hội, sự tương quan này có thể ví như giữa người chủ trong gia đ́nh cùng với những thành viên liên hệ.

 

Thông thường ta thấy một số vị vua mới lên ngôi, cũng như những chính phủ mới lên cầm quyền hay chứng tỏ uy quyền của ḿnh bằng những hành động bắt bớ, chém giết những người thuộc phe bại trận thậm chí ngay cả người thân tín, ruột thịt của ḿnh, như ở Trung Hoa nhà Hán mới thành lập đă xử chết Hàn Tín tướng quân (một vị dũng tướng có công đầu trong việc đánh bại Hạng Vơ giành ngôi vua cho Lưu Bang tức Hán cao tổ);  Lư Thế Dân lên ngôi vua làm Đường Thái Tông đă giết Lư Kiến Thành (anh ruột đă khởi binh làm loạn); vua Nguyễn Gia Long hành quyết dă man (cho voi dày lên người của nữ tướng Bùi Thị Xuân) những trung thần thời vua Quang Trung ; trong thời hiện đại khi hoàn thành việc tấn chiếm miền Nam Việt Nam, cộng sản đă bắt bớ, giam cầm, lưu đày, thủ tiêu những thành phần Dân, Quân, Cán, Chính Việt Nam Cộng Ḥa v.v… và v.v…Riêng vua Lư Thái Tổ đă lấy đức Hiếu Sanh của trời đất làm cung cách mở mang triều đại của ḿnh cùng định quốc an dân. Cùng trong mục đích này, nhà vua đă quyết định dời đô từ thành Hoa Lư là kinh đô cũ của các triều vua Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành về thành Đại La, với thành này là trung tâm giao tiếp thuận tiện cho việc phát triễn cũng như ổn định lâu dài cho cuộc sống người dân. Thành này được đổi tên là Thăng Long khi ngài thấy điềm rồng bay lên khi ngự thuyền trên sông Hồng. Trong bài Thiên Đô Chiếu có câu nói về thành Đại La (thành Thăng Long) như sau: «đắc long bàn hổ cứ chi thế» nghĩa là nơi có rồng cọp ẩn ḿnh hay là nơi đất tốt ẩn chứa nhiều anh tài.

 

Sau khi dời đô về Thăng Long được một năm, vào năm 1011 với phương pháp cai trị  An Ủy Dân Chúng để Ổn Định Chính Trị vua Lư Thái Tổ đă ban lịnh đại xá toàn quốc; ngài c̣n ra lịnh triều đ́nh và các quan địa phương cấp phát quần áo thuốc men và cho phép những người mới được đại xá về quê làm ăn sinh sống. Tiếp theo lịnh đại xá là ngài đă xóa nợ thuế cho cả nước, năm 1014 lại ban chiếu miễn thuế ruộng trong 3 năm cho toàn quốc.

 

Cũng trong năm này ngài đă ra lịnh tha tội cho những người bị lưu đày biệt xứ đồng thời tha phân nửa thuế cho cả nước. Năm 1017 tha thuế ruộng cho nông dân, năm 1018 tha phân nửa thuế ruộng cho cả nước. Dưới thời vua Lê Ngọa Triều đời sống người dân quá lầm than cơ cực, nhân phẩm con người bị chà đạp cùng cực, hơn nửa xă hội VN là nông nghiệp nên nông dân chiếm đại đa số. V́ xă hội loạn lạc, sưu cao thuế nặng, nên nông dân không đủ khả năng trả thuế do đó đă bị bắt bớ lưu đày rất nhiều tạo nên một h́nh ảnh vô cùng đen tối của xă hội VN vào lúc bấy giờ. Hai nỗ lực tha người tù đày và tha thuế cho nông dân đă góp phần rất lớn vào việc ổn định xă hội do đó mà đời sống tinh thần và vật chất của người dân mới được cải thiện. Chính đây là quan niệm Lấy Dân Làm Gốc và Nhà Cầm Quyền Là Phương Tiện Phục Vụ. Đây là yếu tố không thể bỏ qua nếu muốn xây dựng chế độ được bền vững.

 

Năm 1042, vua Lư Thái Tông đă ban hành bộ H́nh Luật đầu tiên (về vấn đề này người viết chưa thấy có quyển sách hoặc tài liệu nào đề cập vào thời vua Lư Thái Tổ có ban hành bộ H́nh Luật, nên tạm gọi đây là văn bản đầu tiên của triều Lư liên quan đến cách xét xử cũng như kiện tụng);đặc biệt trong bộ Luật này cách thức hỏi cung «người có tội» được điều chỉnh ở góc độ rất có t́nh người. Vua Lư Thái Tông quan niệm rằng những người này có thể họ chưa được xét xử rơ ràng và trong t́nh trạng khả nghi, nên vua ra lịnh phải đối xử tử tế với người phạm tội. Quan niệm về những người bị quan phủ bắt về chưa phải là có tội, đồng thời phải đối xử tử tế với người đó nó đă mang một ư nghĩa rốt ráo trên mặt h́nh thức và có t́nh người trên mặt tinh thần.

 

Triều Lư lập nghiệp vào năm 1010 cuối thời Lê Ngọa Triều nhiễu nhương, rối loạn cùng cực. Thay v́ dùng sức mạnh vơ lực để dẹp loạn th́ ngài đă xử dụng cách đại xá người có tội và giảm thuế cho dân. Đến đời vua Lư Thái Tông năm 1042 chỉ trong ṿng có 32 năm, không thể nói rằng những nỗ lực của vua Lư Thái Tổ đă thành công hoàn toàn được, v́ thời gian quá ngắn, cho nên Thái Tông đă tiếp nối nỗ lực này bằng văn kiện cụ thể hơn về kiện tụng xử án. Việc làm này đă gia tăng thêm hiệu năng trong việc giải quyết các mầm loạn lạc, cũng như đau khổ của dân chúng c̣n tiềm tàng ở đâu đó.

 

Quan điểm xem người bị quan phủ bắt chưa hẳn là có tội đă là hiếm thấy vào thời bấy giờ, v́ ngài (vua Lư Thái Tông) cho rằng họ c̣n trong t́nh trạng khả nghi hoặc chưa phán quyết rơ ràng. Nó tượng trưng cho tinh thần tôn trọng phẩm cách con người một cách tuyệt đối mà vào thời phong kiến, ở những nơi khác, hễ ai mà bị quan phủ bắt – tự nhiên đă mang tội -. Tiến xa hơn ở lănh vực này ngài c̣n ra lịnh phải đối xử tử tế với tù nhân. Tức nhiên là không được đánh đập, hành hạ tù nhân trong lúc hỏi cung cũng như là ép cung. Đây là phương pháp hay nhất để diệt tận gốc mầm móng loạn lạc trong dân gian. Nếu nhà nước có cái nh́n thiện cảm với nhân dân, th́ nhân dân sẽ có thiện cảm với nhà nước đó mà tích cực cộng tác trong nhiều lănh vực khác nhau liên quan đến công cuộc bảo vệ và xây dựng xứ sở. Kết quả cho ta thấy nhà Lư đă xây dựng và duy tŕ triều đại của ḿnh được hơn 200 năm.

 

Nếu nhà nước xem nhân dân như là kẻ thù th́ nhân dân có phản ứng chống lại bằng nhiều h́nh thức khác nhau. Thí dụ như ở Trung hoa, sau khi Tần Thủy Hoàng chết đi, Dinh Hồ Hợi nối ngôi và làm nhiều điều tàn ác khiến dân chúng lầm than khổ cực và họ đă nổi lên khắp nơi để chống lại dữ dội, trong đó có Hạng Vơ và Lưu Bang, rốt cuộc Lưu Bang đă thành công trong việc lật đỗ nhà Tần và thắng luôn Sở Bá Vương nhờ mưu mô xảo quyệt, v́ vậy «Nước có thể chở thuyền đi và cũng có thể làm lật thuyền» là ở chỗ đó. Cung cách hành xử của vua Lư Thái Tông đối với tù nhân c̣n mang một ư nghĩa tâm lư đặc biệt. Ngài đă lấy t́nh thương và trí tuệ để khuyến khích người phạm tội trở về đường ngay nẻo chánh; t́nh thương đó được biểu lộ một bên như người đứng đầu trong gia tộc với các thành viên trong gia đ́nh, sự phân biệt giữa nhà vua với thần dân đă không c̣n hiện diện ở đây; trí tuệ là thay v́ bịt đường bí lối bằng những biện pháp trừng trị nặng nề th́ ngài lại mở rộng lối thoát, tạo cho họ có cơ hội ăn năn thực sự bằng quan niệm «không xem họ là người có tội…đối xử tử tế không đánh đập…». Quan niệm và hành động này đă là tác động tâm lư đặc biệt vào thời bấy giờ đối với xă hội VN. Chưa hết đối với các trường hợp đă phạm tội ngài c̣n hạ lịnh nghiên cứu gia giảm cho các trường hợp khác nhau; như đối với những người chưa trưởng thành từ 15 tuổi trở xuống và người có tuổi từ 70 trở lên được đặc biệt khoan hồng, kể cả người bịnh tật đau yếu hoặc mang tang trong người từ một năm trở lại, có cả trường hợp được cho lấy tiền để chuộc tội. Chúng ta thấy rằng trong các chế độ mệnh danh là phong kiến thời bấy giờ, hễ người nào phạm tội là lập tức gia đ́nh bị liên hệ ngay, nhẹ th́ lưu đày biệt xứ, nặng th́ chém đầu cả 3 đời ḍng họ. Thái độ hành xử quá nặng nề với người có tội của nhiều chế độ phong kiến khác đă tạo nên nhiều thảm kịch gia đ́nh và xă hội thương tâm vô ích. Đấy chính là mầm móng của loạn lạc và chống đối. Thái độ hành xử của vua Lư Thái Tông có khác biệt với các lân bang và có giá trị ở hai mặt về con người th́ tôn trọng và giữ ǵn phẩm giá của họ; về mặt xă hội và gia đ́nh tránh được cảnh chia ĺa ly tán không cần thiết.

 

Trên phương diện ngoại giao, để chứng tỏ sự b́nh đẳng giữa hai dân tộc Việt Hán cũng như khẳng định sự độc lập tự chủ của đất nước ḿnh, vào năm 1054 vua Lư Thái Tông đă đổi danh xưng nước ta là Đại Việt. Người Trung Hoa lúc nào cũng tự hào họ là người ở vùng đất giữa nơi tập trung những ǵ tốt nhất về tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật cũng như nhân tài, nên họ đă xem thường và cho các dân tộc các nước chung quanh là «tiểu quốc man di», các triều vua Trung Hoa đều xưng là Đại như Đại Đường, Đại Tống, Đại Hán v.v…thời Lư Thái Tông tương đương với bên Tàu là nhà Tống. Sự kiện nước ta mang danh xưng Đại Việt chứng tỏ một điều mà Lư Thái Tông muốn nhắn gởi đến nhà cầm quyền Trung Hoa là giữa người và người đều có giá trị ngang nhau, không ai lớn hơn ai, không ai được quyền ỷ mạnh hiếp yếu; danh hiệu Đại Việt c̣n có ư nghĩa cao quư về mặt tinh thần là nước ta có một nền học thuật, không lệ thuộc vào ai cả, kể cả đế quốc hùng mạnh vào thời đó là nước Trung Hoa ở phương Bắc.

¨      

Với 215 năm trị v́, nhà Lư đă xây dựng nên một nước Đại Việt hùng mạnh về mọi mặt. Và đến cuối triều, Lư chiêu Hoàng lên nối ngôi, v́ không đủ sức cai trị đất nước nên đă nhường ngôi lại cho pḥ mă là Trần Cảnh. Đây là một trong những cuộc chuyển giao quyền lực được xem là ôn ḥa nhất, có t́nh người nhất trong lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử Việt Nam nói riêng. Cuộc chuyển giao quyền lực diễn ra từ một người vợ, một người công chúa của triều trước sang cho người chồng một người đời nhà Trần trong khung cảnh lễ giáo cũng như không có cảnh tương tàn tương sát. Sau đó Trần Cảnh lên ngai vua lấy hiệu là Trần Thái Tông, v́ ngài c̣n nhỏ tuổi nên việc trong triều đă giao hết cho Trần Thủ Độ, là một người chú trông coi. Để giữ vững thế lực nhà Trần buổi ban đầu đầu, Trần Thủ Độ đă thực hiện nhiều việc làm không hợp với đạo đức đương thời. Một trong những việc đó là bắt nàng Lư thị là vợ của Trần Liễu đang có mang để gă cho vua Thái Tông. Vua Trần Thái Tông bất măn hành động này nên ngài đă bỏ ngai vua để lên núi Yên Tử cầu học đạo với quốc sư Trúc Lâm. Trần thủ Độ cùng triều đ́nh lặn lội lên núi thỉnh ngài về làm vua, nhưng ngài dứt khoát không chấp nhận. Trần Thủ Độ nói là vua ở đâu th́ triều đ́nh phải ở đó, nên liền sai người chuẩn bị xây dựng cung điện cho vua ngự trị. Một phần v́ sợ làm mất trang nghiêm chốn thiền môn một phần khác bối rối không biết giải quyết ra sao nên ngài đă hỏi ư kiến của quốc sư Trúc Lâm, và được trả lời như sau : «Trong núi vốn không có Phật, phàm là đấng nhân chủ, th́ phải lấy ư muốn của thiên hạ làm tâm của ḿnh», ngài đă nghe theo lời hướng dẫn của quốc sư mà quay về triều đ́nh để tiếp tục làm vua. Cuối đời nhà Lư giặc giả nổi lên khắp nơi như ở Quốc Oai có giặc Mường quấy phá, Hồng Châu có Đoàn Thượng, Bắc Giang có Nguyễn Nộn, đều  bị nhà Trần dẹp yên. Vua Trần Thái Tông rất quan tâm đến đời sống dân chúng các nơi, vào năm 1244 vua đă cho đắp đê Đỉnh Nhĩ ở hai bờ sông Hồng để ngăn ngừa lũ lụt cũng như tạo điều kiện tốt cho người dân cày cấy sinh sống. Khi Trần Liễu v́ tức giận Trần Thủ Độ ngang ngược đă khởi binh làm phản, nhưng v́ sức yếu nên đă thất bại. Ông nhảy lên thuyền của Trần Thái Tông và xin tha tội. Vua Trần Thái Tông đă nhân đức tha tội cho ông và c̣n ban đất phong ông là An Sinh Vương. Vua Trần Dụ Tông về sau đă làm bài thơ ca ngợi đức độ của vua Trần Thái Tông so với Lư Thái Dân đời Đường, bài thơ như sau :

 

Đường Việt Khai Cơ Lưỡng Thái Tông

Đường Xưng Trinh Quán Ngă Nguyên Phong

Kiến Thành Chu Tử An Sinh Tại

Miếu Hiệu Tuy Đồng Đức Bất Đồng

 

Đại ư nói Nước Đường và Việt Đều Có Vua Thái Tông Cả, Đường Là Trinh Quán Việt Hiệu Nguyên Phong, Lư Kiến Thành (anh ruột Lư thái Dân) Làm Loạn Th́  Bị Giết C̣n An Sinh Vương Trần Liễu Th́ Được Tha, Tên Hiệu Th́ Giống Nhau Nhưng Đức Độ Th́ Lại Không Đồng. Vua Trần Thái Tông vào năm 1251 (năm tân Hợi) chính tay viết bài minh dạy cho các vị hoàng tử các điều Trung, Hiếu, Ḥa và Tốn. Nghĩa là tận Trung với nước, Hiếu thảo với cha mẹ ḍng họ, ôn Ḥa chung sống với nhau và khiêm Tốn đối với mọi người. Cho nên trong thời Trần những nạn tranh giành ngôi vị hầu như không có xảy ra giữa các vương tộc, đồng thời các vương thân quốc thích nhà Trần cư xử cũng như chung sống với nhau rất ḥa đồng và tương kính. Trong ba lần đại phá quân Mông Cổ, các binh sĩ Đại Việt đều khắc lên vai hai chữ «Thát Đát» nghĩa là quyết tâm tiêu diệt quân xâm lăng Mông Cổ. Và trong lúc bôn đào vua Trần Nhân Tông đă được Trần Lai chia xẻ miếng cơm hẩm khi chạy giặc ra Hải Đông. Đây tượng trưng cho sự trên dưới đồng ḷng chống giặc là cũng do đầu thời Trần đă lấy Nhân Nghĩa làm căn bản dựng nước, với dân chúng th́ thương yêu không hà hiếp bóc lột, với quân thân quốc thích th́ ḥa kính tương nhượng, tuy là chế độ tập quyền phong kiến nhưng không chủ trương chuyên chế, nên đă tạo được sự đồng thuận của mọi người khi hữu sự. Khi quân Mông-cổ xâm lăng nước ta lần thứ nhất năm 1278, đích thân vua Trần Thái Tông thống lănh quân đội chiến đấu ngăn chận quân thù và ngày 29 tháng 1 năm 1258 quân dân Đại Việt đă toàn thắng đẩy lui quân thù ở Đông Bộ Đầu. Cũng vào mùa xuân năm ấy (1258) vua Trần Thái Tông nhường ngôi cho con là Trần Thánh Tông để xuất gia cầu đạo và được triều đ́nh tôn là thái thượng hoàng. Vua Trần Thái Tông khi quốc gia hữu sự đă tay kiếm yên ngựa để chiến đấu chống giặc Nguyên xâm lăng, khi thái b́nh Ngài tay chuỗi quyển kinh để khai phá lẽ mầu nhiệm của đạo Phật, tác phẩm để lại cho đời là quyển Khóa Hư Lục. Đặc biệt trong thời ngài cai trị, Lăo giáo và Khổng giáo cũng được đặc biệt nâng đỡ như đắp tượng Chu-công, Khổng tử, Mạnh tử cũng như vẽ 72 người hiền để thờ đồng thời bắt học tṛ vào Viện Quốc tử để giảng Tứ thư Ngũ kinh. Khiến một nhà nho như Ngô Thời Sĩ cũng phải hết lời ca ngợi. Hội nghị Diên Hồng, hội nghị B́nh Thang nhóm họp để lấy ư dân trong việc chống quân Mông-cổ khi chúng xâm lăng nước ta lần thứ 2. Các hội nghị này có một ư nghĩa rất quan trọng, đó là triều đại nhà Trần đă lấy «Dân làm gốc, Dân là quư», v́ vậy chúng ta mới chiến thắng được quân Mông-cổ một cách vẻ vang và nâng địa vị nước ta trở nên một cường quốc đương thời về mọi mặt. Vua Trần Nhân Tông đă cùng quân dân Đại Việt chiến thắng quân xâm lăng quân Mông-cổ, ngài c̣n là tác giả tập Trần Triều Thượng Sĩ Ngữ Lục, đă là những bài kệ có tác dụng rất mạnh trong việc nghiên cứu và học Phật.

 

Hưng Đạo Đại Vương là con của An Sinh Vương Trần Liễu, ông này v́ hận Trần Thủ Độ cướp vợ là Lư thị cho vua Trần Thái Tông nên lúc nào cũng căn dặn Vương phải nhớ thù mà báo. Riêng ông đă nổi loạn chống lại triều đ́nh nhà Trần nhưng v́ sức cô thế yếu nên bị thua phải nhảy vào thuyền của vua Trần thái Tông mà xin tha tội. Trần Liễu đến lúc lâm chung cũng c̣n nhắc ngài phải báo thù thay cha nếu không ông sẽ không nhắm mắt được. Đức Trần Hưng Đạo v́ nghĩa lớn đă không làm theo lời cha dặn lúc lâm chung khi có giặc Mông-cổ xâm lược, Ngài đă không lợi dụng t́nh thế rối ren mà thủ lợi cho chính ḿnh, mà v́ đại nghĩa dân tộc, hết ḷng cùng vua quan nhà Trần chiến đấu chống thù chung. Đức Hưng Đạo có đem lời cha trăn trối trước giờ nhắm mắt hỏi hai vị cận tướng là Yết Kiêu và Dă Tượng, các vị này can gián rằng «Tính làm việc ấy dẫu được giàu sang một thời đấy thật, nhưng tiếng xấu để măi ngh́n thu. Đại vương bây giờ há chẳng giàu sang rồi ư ? Chúng tôi thề rằng thà chết già làm gia-nô c̣n hơn làm quan vô trung hiếu…» Ngài đă rất cảm động khi nghe những lời khuyên chí t́nh này. Do đó, khi gần các vua Trần, Hưng Đạo Đại Vương đă rất thận trọng giữ ǵn từng hành vi một để tránh tai tiếng đối với bên ngoài như khi pḥ thượng hoàng Trần Thánh Tông và nhà vua Trần Nhân Tông lúc đi ra Hải Đông khi lại vào Thanh Hóa. Đối với bề trên đă như vậy, mà đến các người trong thân quyến thái độ Ngài cũng không khác. Như đối với Chiêu minh Vương Trần quang Khải là vai anh em con chú bác (v́ Trần quang Khải là con thứ ba của vua Trần Thái Tông), Ngài đă bỏ qua mọi hiềm khích trước đây để cùng chung vai diệt giặc Nguyên xâm lược. Như một lần đóng quân ở vạn Kiếp, đích thân Hưng Đạo Đại Vương đă pha nước trầm hương mà tắm gội cho Trần Quang Khải, một việc không phải người tầm thường có thể làm được, dù sao ngài cũng đường đường là đại tướng của quân đội Đại Việt, thế mà Ngài đă không nghĩ  đến ḿnh mà chỉ nghĩ  đến người khác. Đặc biệt khi giặc Nguyên xâm lược, Ngài bảo với binh sĩ  rằng «Đến bữa, ta từng quên ăn; ban đêm, ta thường dựa gối, trào nước mắt, ḷng đau như rần, giận không được ăn thịt nằm da…của quân địch!» chỉ qua mấy lời nói ngắn ngủi đă biểu lộ trọn vẹn cho tấm ḷng yêu nước thương dân vô hạn của ngài. Đức Hưng Đạo Đại Vương là người biết trọng kẻ có tài như Phạm ngũ Lăo, Trương Hán Siêu, đức độ ngài c̣n tỏa sang cả loài vật. Trong lúc tiến quân vượt qua sông Bạch Đằng để truy đánh Ô-mă-Nhi, con voi trắng mà ngài cỡi bị sa lầy, và càng lúc lún càng sâu, không thể nào kéo lên được, v́ việc quân cấp bách ngài phải đau ḷng mà rời voi đi bộ. Thấy ngài rời đi, voi ứa nước mắt. Khi chống giặc thành công trở lại bờ sông th́ voi đă chết từ lâu, nên Ngài đă cho dựng tượng voi để kỷ niệm. Đến ngày nay tượng voi gạch đó vẫn c̣n, và chỗ ấy gọi là «bến Voi». Trước khi Vương mất, vua Trần Anh Tông đến thăm hỏi phương thức chống giặc và giữ nước, ngài đáp: «…Trước đây Ô-mă-Nhi, bốn mặt bao vây. Phía ta vua tôi đồng tâm, anh em ḥa thuận, cả nước cùng họp sức, chúng mới bị bắt: đó là ḷng Trời xui nên…phải tùy từng lúc mà liệu chiều, cốt có hạng quân sĩ thân tín như t́nh cha con th́ mới dùng được. Và phải nới lỏng sức dân để làm cái chước rễ sâu gốc vững. Đó là phương sách giữ nước hay hơn cả.» Đến cả lúc trước khi chết lúc nào ngài cũng chỉ nghĩ  đến dân và nước mà thôi. Thật tiếng thơm lưu măi muôn đời.

 

Ở thời nhà Trần, người phụ nữ đă được đối xử một cách đặc biệt hơn so với những triều đại phong kiến đương thời. Như những người con gái bị tuyển vào cung làm cung nữ, ngay cả bị lập làm thứ phi rồi cũng có thể xin được trở về nhà của ḿnh hoặc lấy chồng khác, không bị g̣ bó ép ḿnh suốt đời trong cung cấm. Ngoài ra ngoài dân giả, có người phụ nữ nào lỡ bị phạm tội ngoại t́nh th́ không bị xử «đóng bè trôi sông hay voi dày voi xé» mà chỉ bị xử về làm tớ gái cho chồng cũ và người chồng có thể đem bán hay đem đi ở đợ. Cung cách hành xử này đă là khá đặc biệt, một phần nào đă nói lên sự tôn trọng quyền làm người của phụ nữ thời bấy giờ.

 

¨       Trong bức thư kêu gọi csvn lấy ngày 30/04 làm ngày Sám Hối và Chúc Sinh Toàn Quốc, Ḥa thượng Thích Huyền Quang mong rằng những người cầm đầu csvn hăy lưu tâm đến những người đă chết trong các cuộc chiến tranh từ mấy mươi năm qua trên đất nước của cả hai bên; những người tàn tật, gia đ́nh cô nhi quả phụ tử sĩ, đặc biệt là những người thuộc chế độ miền Nam cũ chưa bao giờ được xem là người trong một nước. Đó là chưa kể tới những người bị chết oan ức trong thời cải cách ruộng đất, tết Mậu Thân 1968 ở Huế; ngoài ra hơn 100.000 người bị thủ tiêu ở các trại tù mệnh danh cải tạo, khoảng 1 triệu người khác bị chết trên đường vượt biên vượt biển t́m tự do.

 

Bức thư c̣n đề cập tới trong 25 năm qua thái độ sống của ngưới Việt Nam chỉ có 2 cách, một là vào tù, hai là vào đảng cs. Vào tù th́ được tự do ở riêng nhưng chẳng ai biết ai hay, làm một loại người không lợi ích cho xă hội; c̣n vào đảng cs th́ phải chấp nhận làm nô lệ linh hồn cho chủ nghĩa ngoại lai đồng thời mất đi bản tính tự nhiên của con người, không được nói và nghĩ theo tiếng ḷng của ḿnh, HT viết: «Tự do theo kiểu này, khi nhân phẩm đă bị giản thể, có khác chi thứ tự do của loài trùn quằn quại trong ḷng đất?» Bản thân Ngài là một Tăng sĩ năm nay đă 83 tuổi đời mà không được quyền sống cũng như đi rao truyền giáo lư của Đức Phật Thích Ca cho đồng bào trong nước; hơn nữa Giáo Hội truyền thống dân lập từ 20 thế kỷ nay lại bị áp bức không được tự do sinh hoạt mà thay vào đó là giáo hội tân lập do nhà nước dựng lên nên và điều khiển. Sự quan tâm mà HT Huyền Quang nêu ra không phải cho bản thân mà là cho nền Văn Hiến có truyền thống hơn 4000 năm hiện diện. Nền Văn Hiến này đang bị mai một dần v́ sự cai trị độc đoán phản dân chủ của chế độ csvn hiện tại.

 

Ḥa thượng Huyền Quang nêu lên những thủ đoạn đàn áp các thành phần dân tộc khác nhau của csvn từ những năm 50 để chiếm độc quyền lănh đạo, đặc biệt là đối với Phật giáo Việt Nam. Ngài c̣n đ̣i hỏi phục hồi quyền sinh hoạt của GHPGVNTN đồng thời trả  tự do cho những tù nhân tôn giáo. Đặc biệt là băi bỏ nghị quyết 31/CP là lịnh bắt giam người vô tội vạ dưới  những tội danh phản động, phá hoại an ninh tổ quốc. Cuối cùng Ngài đề nghị csvn thực hiện 3 nghĩa cử văn minh như: chấm dứt gây chiến thực sự giữa người Việt Nam với nhau trong cũng như ngoài nước, ngay cả trong tư tưởng cũng cần phải tiêu diệt; Điểm thứ hai là lấy ngày 30.04 làm Ngày Sám Hối và Chúc Sinh Toàn Quốc để trả Linh Quyền Cho Người Chết bằng cách làm lễ sám hối và cầu siêu cho những oan hồn uổng tử bị bức hại từ mấy mươi năm qua; phục hồi Nhân Quyền Cho Người Sống bằng cách bảo đảm cũng như thực thi các quyền tự do căn bản của con người bằng pháp luật rơ ràng. Và điểm sau cùng là ban hành sắc luật chính thức t́m kiếm thi hài tử trận của binh sĩ cả hai miền Nam Bắc, đồng thời phục hồi danh dự những người chết oan, cấp dưỡng xứng đáng cho người tàn tật v́ chiến tranh không phân biệt chính kiến.

 

¨       Sự kiện giáo dân ở làng Nguyệt Biều dưới sự hướng dẫn của linh mục Nguyễn Văn Lư qua Lời Kêu Gọi số 1 đă đứng lên đ̣i hỏi Tự Do Tôn Giáo có một ư nghĩa rất đặc biệt v́ ngày Quốc Tế Nhân Quyền 10/12/2000 là ngày cuối cùng của thế kỷ 20; Thứ hai là một vị linh mục đứng đầu giáo xứ đă công khai lên tiếng chống lại thế lực vô thần cs, Linh mục Lư đă nói lên tiếng nói uất nghẹn của dân tộc đang bị đọa đày khiến cho chúng ta chợt nhớ lại h́nh ảnh bi tráng của Đức Chúa Giésu cách đây 2000 năm về trước khi Ngài chịu tội thế cho nhân loại khi bị đóng đinh đến chết trên thập tự giá;  Thứ ba Linh mục Nguyễn Văn Lư cùng giáo dân Nguyệt Biều đă không sợ hăi trước bạo lực vô thần cs khi công khai đ̣i Tự Do Tôn Giáo Thật Sự, chứng tỏ Niềm Tin Hữu Thần của các vị đó thật là vô biên không ǵ lay chuyển nỗi. Những thời gian kế tiếp các Lời Kêu Gọi từ số 2 đến số 7 đă lần lượt được phổ biến các nơi, đây là những bước đấu tranh chiến lược từ thấp lên đến cao, từ thụ động lên đến năng động để chuẩn bị cho bước đ̣i hỏi cao hơn. Và đă thể hiện cụ thể qua Lời Kêu Gọi Giải Thể Đảng Cộng Sản Để Cứu Nguy Tổ Quốc Việt Nam của Linh mục Nguyễn Văn Lư vào ngày 13/02/2001 ngay tại giáo xứ An Truyền Huế.

 

¨       Bản Tuyên Bố Chung về Chính Sách Tôn Giáo của Cộng sản tại Việt Nam  của các tôn giáo ngày 28/12/2000, có ư nghĩa đ̣i hỏi csvn phải tuyệt đối tôn trọng quyền Tự Do Tôn Giáo Thực Sự của các tôn giáo, hoàn trả lại tài sản của các giáo hội đă bị trưng thu trái phép, chấm dứt mọi âm mưu thủ đoạn nhằm bóp nghẹt và bóp chết tôn giáo, trả tự do không điều kiện những tín đồ cũng như chức sắc của các giáo hội, phải tôn trọng các điều khoản quy định trong Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền ngày 24/09/ 1982 mà csvn là một thành viên đă kư vào bản Công Ước nầy.

 

¨      Ḥa thượng Thích Thiện Hạnh là Chánh Thư Kư Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tham gia đại hội bất thường tổ chức tại Tu viện Nguyên Thiều - B́nh Định vào các ngày 16-19 tháng 9 năm 2003. Sau đại hội, csvn đă dùng những hành vi côn đồ bắt bớ đàn áp các vị lănh đạo cao cấp của PG như Đức Tăng thống Thích Huyền Quang, Ḥa thượng Thích Quảng Độ, Ḥa thượng Thích Thiện Hạnh, Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ, Thượng tọa Thích Viên Định … Với một lư do duy nhất đó là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đă không chấp nhận sự thống thuộc dưới quyền của cộng sản Hà Nội. Riêng trường hợp của HT Thích Thiện Hạnh, công an cộng sản đă quản chế bằng khẩu lệnh, không được ra khỏi chùa Báo Quốc-Huế, với những lư do mơ hồ, phi luật pháp, vào 6h45 phút, ngày 15 tháng 10 năm 2003.

 

Ḥa thượng Thiện Hạnh đă phát nguyện tuyệt thực vô hạn định kể từ ngày 19 tháng 10 năm 2003. Tuy nhiên v́ sự khẩn khoản của trong các đệ tử yêu cầu ngài tạm ngưng tuyệt thực, đồng thời v́ Phật sự c̣n rất nhiều cộng với Giáo chỉ của Đức Tăng thống Huyền Quang gởi đến, nên HT Thiện Hạnh quyết định tạm ngưng tuyệt thực vào 17 giờ chiều ngày 28/10/2003. Trong thông bạch tạm ngưng tuyệt thực, HT Thiện Hạnh kêu gọi mọi người hăy mạnh dạn chấp hai tay bất bạo động, im lặng sấm sét cùng nhau đấu tranh cho sự sống c̣n của dân tộc và Phật giáo Việt Nam.

 

 

V/ Lời Kết :

Cung cách hành xử giữa Người và Người mang t́nh tự dân tộc vốn đă và đang hiện diện trên dăy đất Đại Việt từ 4883 năm nay. Hay nói một cách khác Nhân Quyền Việt Nam vốn đă được un đúc, cũng như phát triễn từ lư thuyết cho đến thực tế ngay trong ḷng dân tộc đă từ lâu lắm rồi, đây là điều không thể nào phủ nhận được đồng thời đă được chúng tôi tŕnh bày một phần nào trong bài viết. Nhưng từ khi hai họ Trịnh Nguyễn lấy sông Gianh làm ranh giới phân tranh nên t́nh tự Nhân Quyền của dân tộc đă bị lu mờ, chỉ có chói sáng trong khoảng thời gian ngắn khi Quang Trung Hoàng Đế đại thắng 20 vạn quân nhà Thanh, và sau đó đă v́ loạn lạc và sự xâm nhập của các chủ thuyết ngoại lai phi dân tộc, phản dân tộc, mà hậu quả là đất nước chúng ta đă rơi vào tận cùng đáy vực của sự thống khổ.

 

Dân tộc Việt Nam đă liên tục đấu tranh đ̣i hỏi Quyền Làm Người của ḿnh trong hàng mấy mươi năm nay, đây là hành động đấu tranh vô cùng chính đáng, là đ̣i hỏi «Hợp Ḷng Dân, Thuận Ư Trời».

 

Sự Im Lặng Sấm Sét mà HT Thiện Hạnh đề cập, biểu lộ cho thái độ phản kháng cao độ của đấu tranh bất bạo động, bất hợp tác. Do đó, mọi người Việt Nam hăy tập trung toàn bộ sức mạnh của tâm (tâm lực) để phá vỡ (đặc biệt phá vỡ sự sợ hăi), đối kháng lại sự đàn áp thô bạo và dă man của lực lượng ngoại nhập cộng sản đă và đang đè nặng lên đất nước và dân tộc Việt từ mấy mươi năm nay. Đây là một h́nh thức đấu tranh ít đổ máu nhất và có khả năng thành công rất cao. Với sự tâm lực tập trung đó, mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước đă và sẽ tạo nên sức mạnh vô biên đi tới tháo bỏ ṿng cương tỏa của cộng sản Việt Nam.

 

 (Tạm hoàn tất nhân kỷ niệm Quốc Tổ Hùng Vương lần thứ 4880 năm.

Phật lịch 2544, Dương lịch 2001, phổ biến lần thứ ba, 10 tháng 12 năm 2003)

 

Trúc Lâm Lê An B́nh (leanbinh@netscape.net)

________________________________

Sách vở, tài liệu tham khảo:

1.      Văn Minh Việt Nam, tác giả cố Giáo sư Nguyễn Đăng Thục, xb 1964, Sài G̣n Việt Nam.

2.      Thiền Học Trần Thái Tông, tác giả cố Giáo sư Nguyễn Đăng Thục, Viện đại học Vạn Hạnh xb 1971, chùa Khánh Anh tái bản lần thứ hai 1988 tại Paris Pháp quốc.

3.      Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, tác giả Lê Mạnh Thát, nxb Thuận Hóa 1999, Việt Nam.

4.      Đạo Phật Và Ḍng Sử Việt, tác giả Đức Nhuận, nxb Phật Học Viện Quốc Tế tái bản lần thứ nhất tại Hoa Kỳ, 1995-1996.

5.      Phật Giáo Ḥa Hảo Trong Ḷng Dân Tộc, tác giả Nguyễn Long Thành Nam, nxb Đuốc Từ Bi 1991, Hoa Kỳ.

6.      Quid 2000, nxb Sélection Reader’s Digest 2000, Pháp quốc.

7.      Dictionnaire Encyclopédique Ilustré, nxb Hachette 1996, Pháp quốc.

8.      La Révolution Francaise – Au jour Le Jour -, nxb Hatier 1985, Pháp quốc.

9.      Trần Hưng Đạo, tác giả Hoàng Thúc Trâm, nxb Vĩnh Bảo 1950, Sài G̣n Việt Nam .

10.    Lời Kêu Gọi « Sám Hối Và Chúc Sinh» 30/04/2000, Đại lăo Ḥa thượng Thích Huyền Quang, 21/04/2000, tỉnh Quảng Ngăi, miền Trung Việt Nam.

11.    Lời Kêu Gọi Số 1, Linh mục Nguyễn Văn Lư, 3/12/2000, Nguyệt Biều, Huế, Việt Nam.

12.    Bản Tuyên Bố Chung về Chính Sách Tôn Giáo của Cộng sản tại Việt Nam của các tôn giáo ngày 28/12/2000, Việt Nam.

13.    Lời Kêu Gọi Giải Thể Đảng Cộng Sản Để Cứu Nguy Tổ Quốc Việt Nam, Linh mục Nguyễn Văn Lư, 13/02/2001, An Truyền Huế.

14.    Lời Kêu Gọi số 9, Linh mục Nguyễn Văn Lư, 20/02/2001, An Truyền Huế.

15.    Lời Kêu Gọi Cho Dân Chủ Việt Nam của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Ḥa Thượng Thích Quảng Độ, 21/02/2001, Thanh Minh Thiền Viện, Sài G̣n Việt Nam.