TRÚC LÂM
SƠ TỒ
(1258 – 1308)
Thích Phước Sơn
1.
Diễn
tiến đầu đời
Trúc Lâm Đại sĩ là vua thứ tư nhà
Trần, con của Thánh Tông, lên ngôi ngày 12 tháng 2 năm Mậu
dần (1278).
Trước khi Đại sĩ ra đời,
Nguyên Thánh Hoàng Thái hậu nằm mộng thấy thần
nhân đưa cho hai lưỡi kiếm bảo : "Có lệnh
của Thượng giới, cho phép ngươi được
chọn lấy". Bỗng nhiên được kiếm,
Thái hậu bất giác rất vui, nhân đó có thai. Những
tháng dưỡng thai, nhà bếp dâng thức ǵ Thái hậu cứ
dùng như thường, chẳng cần kiêng cử mà thai cũng
chẳng sao.
Đến khi Đại sĩ sinh ra (1258),
màu da như vàng ṛng, Thánh Tông đặt tên là Kim Phật. Vai
bên phải của Đại sĩ có nốt ruồi
đen lớn như hạt đậu, có người biết
xem tướng nói : "Đứa bé này ngày sau có thể
gánh vác nỗi việc lớn".
Năm 16 tuổi (1274) được lập
làm Hoàng Thái tử, mặc dù Đại sĩ từ chối
đến ba phen, xin để em ḿnh thay thế mà đều
không được chấp nhận. Cũng trong năm này,
Đại sĩ kết duyên với Khâm Từ Thái hậu
(Trưởng nữ của Nguyên Từ Quốc mẫu).
T́nh cầm sắt đôi bên tuy hợp mà niềm ân ái th́ lạnh
nhạt nhà vàng.
Vào giờ Tư một đêm kia, Đại sĩ
vượt thành ra đi, định vào thẳng núi Yên Tử,
nhưng khi đến chùa Tháp núi Đông Cứu th́ trời
vừa sáng, lại quá mệt, nên phải nghỉ tạm tại
chùa ấy. Vị sư Trụ tŕ thấy Đại sĩ
tướng mạo khác thường, liền đem thức
ăn lên dâng. Ngay hôm ấy, Thái hậu thuật lại với
Thánh Tông việc Đại sĩ vượt thành xuất
gia. Thánh Tông liền sai quần thần tỏa đi t́m kiếm
khắp nơi, bất đắc dĩ, Đại sĩ
phải trở về.
Sau khi lên ngôi (ngày 22 tháng 10 năm 1278) tuy ở
chốn cửu trùng cực kỳ phú quư mà vua vẫn sống
một cuộc đời thanh tịnh. Một hôm ngủ
trưa tại chùa Tư Phúc trong đại nội, vua mộng
thấy trên rún nở ra một hoa sen vàng lớn như bánh
xe, trên hoa có một đức Phật vàng. Bên cạnh có
người chỉ vua hỏi : "Biết đức Phật
này không ? Đó là đức Biến Chiếu Tôn đấy".
Giật ḿnh thức dậy, vua đem giấc mộng thuật
lại cho Thánh Tông nghe. Thánh Tông càng lấy làm lạ. Từ
đó, vua thường dùng chay lạt, kiêng ăn thức mặn
nên long nhan gầy ṃn. Thánh Tông thấy thế ngạc nhiên hỏi
th́ vua cứ t́nh thực bày tỏ. Thánh Tông khóc, nói : "Ta
nay đă già, trông cậy vào con, nếu con như vậy th́
làm sao nối được thịnh nghiệp của Tổ
tông ?". Vua cũng rơi nước mắt.
Điều Ngự Thánh tánh sáng suốt,
đa tài, hiếu học, đọc khắp kinh sách, thông
hiểu cả nội lẫn ngoại điển. Lúc rảnh
việc, Điều Ngự thường mời các Thiền
khách đến giảng cứu tâm tông, lại thâm vấn
Tuệ Trung Thượng Sĩ, nhờ vậy mà đạt
được cốt tủy của Thiền. Cũng v́ thế,
Điều Ngự tôn thờ Tuệ Trung Thượng Sĩ
làm Thầy.
Sau khi nhường ngôi cho Anh Tông (ngày 9 tháng 3
năm 1298) chừng hơn một năm, Điều Ngự
quyết định xuất gia. Tháng 10 năm Kỷ hợi,
niên hiệu Hưng Long thứ 7 (1299), Điều Ngự
vào thẳng núi Yên Tử tinh cần tu 12 hạnh đầu
đà, và tự xưng hiệu Hương Vân Đại
Đầu Đà.
Để xiển dương Thiền học,
Điều Ngự lập ra tịnh xá Chi Đề giảng
pháp độ Tăng. Những người hâm mộ tu học
quy tụ về đây rất đông. Sau đó, Điều
Ngự mời các bậc danh Tăng về chùa Phổ Minh
phủ Thiên Trường, mở ra khóa giảng. Trải qua
mấy năm, Điều Ngự vân du đây đó, rồi
đến trại Bố Chính, lập ra am Tri Kiến.
Năm Giáp Th́n, niên hiệu Hưng Long thứ
12 (1304), Điều Ngự đi khắp chôn quê, khuyên dân
chúng phá bỏ các dâm từ (những nơi thờ tự
các tượng thần lơa thể và sinh lực khí), và thực
hành giáo lư Thập thiện. Cũng trong chuyến đi này,
khi đến thôn Nam Sách, Điều Ngự gặp một
người trai trẻ tên là Đồng Kiên Cương
đến xin xuất gia. Trông thấy tướng mạo
người ấy khác thường, Điều Ngự thầm
nhủ : "Người thanh niên này có đạo nhân, sau
này chắc sẽ trở thành pháp khí". Vui v́ sự gặp
gỡ bất ngờ, nên Điều Ngự đặt tên
là Thiện Lai, về sau đổi đạo hiệu là
Pháp Loa, làm Tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm.
Mùa Đông năm nầy, vua Anh Tông dâng biểu
cung thỉnh Điều Ngự vào đại nội truyền
giới tại gia Bồ-tát. Ngày vào thỉnh, vương
công bá quan chuẩn bị xa giá đón rước Điều
Ngự rất long trọng, rồi cùng vua thụ giới.
Sau đó, Điều Ngự trác tích tại
chùa Sùng Nghiêm, núi Chí Linh, xiển dương Thiền chỉ.
2.
Tư
tưởng Thiền học
Trước một buổi lễ khai
đường, Điều Ngự niệm hương bạch
Phật; lễ Phật xong, bước lên pháp ṭa, bạch
chùy, nói; "Đức Điều Ngự Thích-ca-văn Phật
v́ một đại sự nhân duyên mà xuất hiện trong
đời, 49 năm chưa từng nói một lời. Ta
nay v́ các ông lên ngồi ṭa này, sẽ nói những ǵ đây
?". Rồi ngồi sang giường Thiền một bên,
đánh một tiếng chùy nói :
"Thân
như hơi thở luồng qua mũi,
Kiếp
tợ mây lồng đỉnh núi xa.
Chim
quyên kêu ră bao ngày tháng,
Đâu
phải ngày xuân để luống qua".
Lại đánh một tiếng chùy nữa tiếp
: "Chẳng có ai cả sao ? Hăy ra đây ! Hăy ra đây
!"
Một vị Tăng bước ra đảnh
lễ, nói : "Thế nào là Phật ?".
Điều Ngự đáp : Chấp y lối
cũ là sai lạc.
Lại hỏi : Thế nào là Pháp ?
Đáp : Chấp y lối cũ là sai lạc.
Hỏi : Rốt cuộc là thế nào ?
Đáp : Tám chữ tháo tung giao phó hết,
C̣n chi đâu nữa nói cùng ông ?
Hỏi : Thế nào là việc hướng
thượng ?
Đáp : Gánh nhật nguyệt trên đầu
gậy.
Hỏi : Dùng công án cũ mà làm ǵ ?
Đáp : Mỗi lần dùng đến lại
thành mới tinh.
Một vị Tăng khác hỏi : "Đại
đức cần khổ tu hành trải nhiều năm
tháng, thế th́ đối với lục thông của Phật,
nay được mấy thông rồi ?"
Đáp : Cũng được lục
thông.
Hỏi : Ngũ thông tạm gác lại, c̣n tha
tâm thông như thế nào ?
Đáp : Quốc độ của
ngươi có mấy thứ tâm,
Như Lai thấy hết, Như Lai biết hết.
Vị Tăng đưa nắm tay lên hỏi
: Nếu đă thấy hết, biết hết, th́ có biết
được trong đây có vật ǵ không ?
Đáp : Dường như có, dường
như không,
Chẳng phải không, chẳng phải sắc.
Hỏi : Gia phong của Phật quá khứ thế
nào ?
Đáp : Hoa viên vắng bóng người
chăm sóc
Lư trắng đào hồng tự nở hoa.
Hỏi : Gia phong của Phật hiện tại
thế nào ?
Đáp : Én sớm lạc trên hồ nước
bạc,
Gió xuân say giữa khóm đào hồng.
Hỏi : Gia phong của Phật vị lai thế
nào ?
Đáp : Băi biển đợi triều, trời
hé nguyệt,
Thôn chài nghe sáo khách trông nhà.
Hỏi : C̣n gia phong của Ḥa thượng
th́ sao ?
Đáp : Áo rách đùm mây đun cháo sớm,
B́nh xưa rót nguyệt nấu trà khuya.
Hỏi : Những bậc đại tu hành c̣n
rơi vào ṿng nhân quả nữa không ?
Đáp : Miệng tợ huyết hồng
phun Phật, Tổ,
Răng như gươm bén đốn Thiền
lâm.
Mai kia thác xuống A-tỳ ngục
Vội niệm Nam-mô Quan Thế Âm.
Một vị Tăng khác hỏi : Đàm huyền,
thuyết diệu, bàn cổ, luận kim, đều là lời
nói suông, thế th́ một câu nói không mắc kẹt làm sao
nói được ?
Đáp : Gió Đông hây hẩy ngh́n hoa nở,
Lách cách xe đưa tiếng rộn ràng.
Vị Tăng toan mở miệng, Điều
Ngự lại tiếp :
Chim hót máu rơi vô dụng cả,
Non chiều mây phủ vẫn như xưa.
Hỏi : Ngh́n dặm mây tan th́ sao ?
Đáp : Mưa lâm râm.
Hỏi : Ngh́n dặm mây phủ th́ sao ?
Đáp : Trăng vằng vặc.
Hỏi : Rốt cuộc như thế nào ?
Đáp : Chớ bám vào đó, bám vào đó sẽ
ăn ba mươi gậy.
Một vị Tăng khác hỏi : Thế nào
là ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ
đẹp?
Đáp : Nếu lấy sắc thấy ta,
Lấy âm thanh cầu ta.
Người ấy làm việc tà,
Không thể thấy Như Lai.
Hỏi : Tổ sư từ Ấn Độ
sang với dụng ư ǵ ?
Đáp : Cùng một hầm đất không
khác.
Hỏi : Thuở xưa có vị Tăng hỏi
Triệu Châu :
"Con chó có Phật tánh không ?
Triệu Châu đáp : Không",
Ư chỉ ấy thế nào ?
Đáp : Trong nước ḥa muối mặn,
Nơi mày rặt sơn xanh.
Hỏi : Câu có câu không như dây leo cây là ǵ ?
Đáp : … Câu có câu không,
Từ xưa tới nay,
Quên nguyệt nh́n tay,
Đất bằng chết đuối.
… Câu có câu không,
Rầu rầu rĩ rĩ,
Cắt đứt sắn b́m,
Đó đây hoan hỷ.
Giảng xong, Điều Ngự xuống ṭa.
Những lời trên đây chép đầy đủ trong Ngữ
Lục.
Tư tưởng Thiền học của
Trúc Lâm c̣n được tŕnh bày ở nhiều chỗ khác.
Trong bài Cư trần lạc đạo phú ông viết :
"Vô minh hết Bồ-đề thêm sáng,
Phiền năo rồi, đạo đức
càng say".
Qua đó, ông đă khẳng định trạng
thái thức tỉnh của ḿnh. Do thức tỉnh mà cơi ḷng
trở nên sáng tỏ. Khi đă sáng tỏ th́ dễ dàng loại
bỏ tất cả mọi cố chấp lệch lạc
và những vọng tưởng điên đảo của
quá khứ, giống như một nhát gươm bén, vung ra
liền cắt đứt cuộn tơ rối trong chớp
nhoáng :
"Buông lửa giác ngộ đốt hoại
thảy rừng tà ngày trước,
Cầm kiếm trí tuệ quét cho xong tánh thức
thuở nay".
Ở ngôi vị một bậc Đế
vương phú quư tột cùng, từng trải cả cuộc
đời v́ dân v́ nước, ngọt bùi cay đắng nếm
đủ, v́ vậy ông có đủ dữ kiện và thẩm
quyền để xác định cái giá trị chân thật
của cuộc đời là ǵ :
"Chuộng công danh, ḷng nhân ngă, thực ấy
phàm phu,
Say đạo đức, đời thân tâm,
định nên Thánh trí".
Lối hành Thiền của ông hết sức
sinh động, không câu nệ vào h́nh thức, có thể thực
hiện trong bất cứ t́nh huống nào, dù đó là lúc ngắm
hoa, hay khi tiếp khách :
"Khách vào chẳng hỏi chuyện nhân thế,
Cùng
tựa lan can ngắm núi mây".
Nếu xem những
việc thị phi như cánh hoa rụng ban mai, và xem lợi
danh như đêm đông sương lạnh, th́ c̣n có ǵ trói
buộc được ḿnh :
"Phải trái rụng
theo hoa buổi sớm,
Lợi
danh lạnh với trận mưa đêm".
Danh lợi chẳng
tham cầu, thị phi không cần biết, tất nhiên tâm hồn
sẽ tự tại an vui, đó là chân giải thoát rồi,
c̣n phải t́m giải thoát làm ǵ. Thế nên, dù sống ngay
trong ḷng cuộc đời, ḥa nhập với cộng
đồng xă hội, bằng một đời sống
dung dị, b́nh thường mà vẫn mang tính chất phi
thường, với tư cách của một bậc thần
tiên siêu thoát :
"Ai trói buộc
mà t́m giải thoát,
Chẳng
phàm t́nh chi đoái thần tiên".
1.
Những
ngày cuối cùng
Ngày mồng một tháng giêng năm Mậu
thân (1308), Điều Ngự sai Pháp Loa giữ chức Trụ
tŕ chùa Báo Ân tại Siêu Loại. Tháng tư, Điều Ngự
đến kiết hạ tại chùa Vĩnh Nghiêm ở Lạng
Giang, giảng Truyền Đăng Lục cho các đệ
tử, bảo Đạo Nhất giảng kinh Pháp Hoa cho
đại chúng. Sau khi giải hạ, Điều Ngự
vào thẳng núi Yên Tử cho phép các tịnh nhân và những kẻ
theo hầu trở về, chỉ giữ lại 10 đệ
tử thân cận. Điều Ngự lên ở am Tử
Tiêu, giảng Truyền Đăng Lục cho Pháp Loa, thị
giả dần dần xuống núi gần hết, chỉ
c̣n một đệ tử thượng túc là Bảo Sát ở
lại bên ḿnh. Từ đó Điều Ngự đi lại
khắp núi non. Bảo Sát bạch : "Tôn đức xuân
thu đă cao mà xông pha sương tuyết như vậy, th́
mạng mạch Phật pháp rồi sẽ ra sao ?".
Điều Ngự dạy : "Thời tiết đă
đến, ta tính đi luôn rồi đó".
Ngày mồng năm tháng mười, gia đồng
của Thiên Thụy công chúa lên núi thưa : "Thiên Thụy
bệnh nặng, mong gặp Tôn đức rồi mất".
Điều Ngự bùi ngùi bảo : "Thời tiết
đó thôi !", liền cầm gậy xuống núi, chỉ
có một thị giả đi theo. Mồng mười
đến kinh thành, dặn ḍ xong các việc, ngày 15, Điều
Ngự lại trở về núi. Trên đường về,
Điều Ngự nghỉ đêm tại chùa Siêu Loại,
sáng sớm hôm sau lại tiếp tục lên đường.
Đến một ngôi chùa làng tại Cổ Châu, Điều
Ngự viết trên vách chùa ấy bài kệ :
"Số
đời thật ảm đạm,
T́nh
người đôi mắt trong.
Cung ma lộn xộn lắm,
Cơi Phật xuân khôn cùng".
Ngày 17, Điều Ngự
đang ở chùa Sùng Nghiêm núi Linh Sơn th́ Tuyên Từ Hoàng
Thái hậu mời về am B́nh Dương cúng dường
trai tăng. Điều Ngự vui vẻ nói :
"Đây là lần cúng dường cuối cùng".
Ngày 18, Điều Ngự
lại đi bộ đến chùa Tú Lâm núi Kỳ Đặc
ở Yên Sinh, cảm thấy đau đầu, bèn nói với
hai Tỳ-kheo Tử Doanh và Hoàn Trung : "Ta muốn lên Ngọa
Vân mà sức chân không thể đi được nữa,
biết làm sao đây ?". Hai Tỳ-kheo thưa
: "Hai chúng con có thể giúp Thầy tới
đó". Khi lên tới Ngọa Vân, Điều Ngự cảm
ơn hai Tỳ-kheo và dạy : "Xuống núi gắng lo tu
hành, đừng xem sinh tử là việc nhàn hạ".
Ngày 19, Điều Ngự
sai thị giả Pháp Không lên am Tử Tiêu gọi Bảo Sát
về gấp. Ngày 20, Bảo Sát vội vàng xuống núi, khi
tới Doanh Tuyền thấy một đám mây đen từ
Ngọa Vân kéo đến Lôi Sơn. Nước suối
Doanh Tuyền dâng cao đến mấy trượng, giây lát
mực nước trở lại b́nh thường. Bảo
Sát thấy hai đầu rồng lớn như đầu
ngựa, ngẩng cao hơn một trượng, hai mắt
như sao, trong phút chốc lại biến mất. Đêm ấy
Bảo Sát ngủ trọ trong sơn điếm, thấy một
điềm mộng bất tường.
Ngày 21, Bảo Sát đến
Ngọa Vân, Điều Ngự thấy ông về hoan hỷ
bảo : "Ta sắp đi rồi, sao ông về muộn vậy
? Trong Phật pháp có điều ǵ chưa rơ nên hỏi gấp
đi". Bảo Sát thưa : "Khi Mă
đại sư bất an, viện chủ hỏi : "Gần
đây Tôn đức thế nào?", Mă Tổ đáp :
"Ngày chầu Phật, tháng chầu Phật", ư chỉ
ấy thế nào ?".
Điều Ngự lớn
tiếng nói : "Tam Hoàng Ngũ Đế
là cái ǵ ?"
Bảo Sát lại hỏi :
"Hoa sum sê chừ, gấm
sum sê,
Tre đất Nam chừ,
cây đất Bắc".
là muốn nói ǵ ?
Điều Ngự nói : "Mắt ông mù rồi".
Bảo Sát thôi không hỏi
nữa.
Từ hôm đó trở
đi, bốn ngày liền trời đất u ám, gió trốt
thổi mạnh, mưa tuyết phủ đầy cây cỏ,
vượn khỉ vây am gào khóc, chim rừng kêu thương
bi thảm. Đến nửa đêm 1 tháng 11, sao trời tỏ
rạng, Điều Ngự hỏi :
"Bây giờ là giờ ǵ ?". Bảo Sát đáp
: "Giờ Tư". Điều Ngự đưa tay
mở cửa sổ, trông ra bầu trời, nói :
"Đây là lúc ta đi". Bảo Sát hỏi
: "Tôn đức đi đâu ?".
Điều Ngự đáp :
"Tất cả pháp không sinh,
Tất cả pháp không diệt,
Nếu hiểu được như vậy,
Chư Phật thường hiện tiền,
Có ǵ đâu đi lại".
Hỏi :
"Nếu như
không sinh không diệt th́ sao ?"
Điều Ngự
đưa tay bụm miệng Bảo Sát, nói :
"Chớ nói mê". Nói xong, liền nằm theo thế
sư tử, an nhiên viên tịch. Đến đêm thứ
hai, Bảo Sát phụng di chúc, dùng am ấy hỏa thiêu
Điều Ngự. Trong lúc hỏa thiêu, hương lạ
bay xa, nhạc trời vang lừng, mây năm sắc phủ
lên giàn hỏa.
Bốn hôm sau, Tôn giả
Phổ Huệ (Pháp Loa) từ Yên Tử vội vả trở
về, dùng nước thơm rưới lên hỏa đàn.
Khi lễ xong, Phổ Huệ thu lượm ngọc cốt,
được Xá-lợi năm màu, cỡ lớn hơn 500
viên, cỡ nhỏ như hạt cải, hạt mè, nhiều
vô số.
Được tin
Điều Ngự viên tịch, Anh Tông, Quốc phụ
Thượng tể cùng triều đ́nh đi thuyền
đến chân núi Ngọa Vân, đảnh lễ, than khóc rồi
nghinh đón ngọc cốt và Xá-lợi xuống thuyền,
rước về kinh thành. Hôm ấy, triều đ́nh và
thôn dă, người người đều thương tiếc,
khóc than vang động đất trời.
Khi xong tang lễ, Anh
Tông dâng tôn hiệu là "Đại Thánh Trần Triều
Trúc Lâm Đầu Đà Tịnh Tuệ Giác Hoàng Điều
Ngự Tổ Phật". Rồi đem ngọc cốt
tôn trí tại lăng Quy Đức, phủ Hưng Long, chia
Xá-lợi làm hai phần, đựng vào b́nh thất bảo.
Một phần đặt vào bảo tháp tại làng Quy
Đức, một phần tôn trí tại Huệ Quang kim tháp
chùa Vân Yên, núi Yên Tử. Vua lại đúc hai tượng
Điều Ngự bằng vàng, một thờ ở chùa Báo
Ân tại Siêu Loại, và một thờ ở chùa Vân Yên núi
Yên Tử.
2.
Tác phẩm của Điều Ngự gồm
có :
1.
Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục.
2.
Hậu
Lục.
3.
Đại
Hương Hải Ấn Thi Tập.
4.
Tăng-già
Toái Sự.
1.
Thạch
Thất Mị Ngữ.
Bốn tác phẩm đầu được ấn hành rộng
răi, c̣n tác phẩm thứ năm th́ Anh Tông cho chép vào Đại
Tạng.
Những tác phẩm trên đây mất mát gần
hết, ngày nay chúng ta chỉ c̣n t́m lại được
28 bài thơ chữ Hán, và một bài kư về cuộc đời
của Tuệ Trung Thượng Sĩ, và hai bài văn Nôm là
Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú Lâm Tuyền
thành đạo ca.
2.
Các
đệ tử nối ḍng pháp của Điều Ngự
:
Pháp Loa, Pháp Không, Pháp Cổ, Pháp Đăng, Bảo
Sát, Tông Cảnh và Huệ Nghiêm. Đó là những danh Tăng
có tiếng tăm đương thời. Ngoài ra những
người được Điều Ngự dẫn dắt,
âm thầm khế hợp với tôn chỉ th́ không kể
đến.
Trúc Lâm ra đời trong một hoàn cảnh lịch
sử đặc biệt, vua cùng Thượng hoàng Thánh Tông
đă cố kết được ḷng dân, lănh đạo
tài t́nh hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên xâm lược
đạt đến thắng lợi vô cùng oanh liệt, viết
nên trang sử huy hoàng cho dân tộc ta. Vua vốn do anh hoa của
sông núi kết tinh, lại kế thừa truyền thống
yêu nước và một nền văn hóa nhân bản Việt
Nam. Đại sĩ đă thâu hóa được căn bản
đạo đức của Nho giáo, vốn có tác dụng
thiết lập một xă hội ổn định, lại
thâm nhập được tinh thần vô ngă vị tha, quên
ḿnh phụng sự chúng sinh của Phật giáo. V́ vậy
Đại sĩ đă thực hiện hoàn hảo cả
hai sứ mệnh; phụng sự cuộc đời và xiển
dương Chánh pháp. Đại sĩ không những là một
vị vua anh minh, nhân hậu, mà c̣n là một Thiền sư
năng động, có tinh thần sáng tạo độc
đáo. Tuy vậy, có một số nhà Nho viết sử, v́
mang sẵn định kiến trọng Nho khinh Phật,
đă đánh giá chưa đúng, thậm chí có đôi chỗ
c̣n nhận định lệch lạc. Thế nhưng, Tổ
quốc và nhân dân Việt Nam sẽ rất công minh, cho nên sự
nghiệp và nhân cách của Đại sĩ vẫn là một
bài học ngàn vàng, mà bất cứ người Việt Nam
nào có lương tri mỗi khi nhắc đến cũng
đều phải nghiêng ḿnh cảm phục và thành kính
ngưỡng mộ.
Thích Phước Sơn
Nguồn: www.quangduc.com