Trúc Lâm Đệ Tứ Tổ
(*)
Cao
Xuân Huy, Lâm Giang dịch
Ngô Thời Nhậm sinh ngày
11/9 năm Bính Dần (25/10/1746) tại làng Tả Thanh Oai (tục
gọi làng Tó) Trấn Sơn
Nam (nay là xă Đại Thanh, huyện Thường Tín, tỉnh
Hà Sơn B́nh). Thuở nhỏ, ông tên là Phó, sau đổi là
Nhậm, tên tự là Hi Doăn, hiệu là Đạt Hiên. Xuất
thân từ một gia đ́nh quí tộc, có truyền thống
văn học, lên 7 tuổi, ông bắt đầu theo cụ
nội là Đan Nhạc Công Ngô Trân, 11 tuổi th́ đă đọc
được kinh, truyện, sử…15 tuổi học với
bố là Ngô Thời Sĩ (1726-1750). Ông vốn rất thông
minh, lại cần cù học tập; 16 tuổi soạn được
quyển Nhị Thập Thất Sử Toát Yếu, có lẽ
là một thứ tóm tắt "Bắc sử" dùng vào việc
thi cử, 17 tuổi sát hạch ở trường huyện,
hai lần đều chiếm hạng ưu; 21 tuổi soạn
xong Tứ Gia Thuyết Giả (không rơ sách ǵ). Vài năm sau
thi đỗ khoa sĩ vọng và được hiến sát
phó sử Hải Dương.
Cuối 1771, gặp lúc cha
bị cách chức, ông xin về phụng dưỡng, cũng
trong lúc này biên soạn quyển Hải-Đông Chí Lược,
ghi chép núi sông, nhân vật, số dân, thuế lệ của
trấn Hải-Dương.
Năm 30 tuổi, Cảnh
Hưng năm Ất Mùi (1775) thi đỗ tiến sĩ.
Khoa này có 18 người đỗ, không có đệ nhất,
đệ nhị giáp, chỉ toàn là tam giáp tiến sĩ, ông
đỗ thứ năm và được bổ cập sự
trung bộ hộ, giữ nhiệm vụ xem xét công việc
sai trái của bộ. Năm Bính Thân (1776), ông được
thăng Giám Sát Ngự Sử đại Sơn-Nam, một
chức vụ kiểm tra các việc ngục tụng, quân
nhung, thuế khóa…của địa phương. Sau đó,
có lần ông được làm giám khảo khoa thi hương
ở Hải-Dương rồi thăng lên đốc đồng
Kinh Bắc. Năm 1778, lại kiêm cả đốc đồng
Thái-Nguyên. Năm Kỷ Hợi 1779 thăng hiện thư ṭa
Đông Các, có nhiệm vụ hiệu đính các văn từ
sách vở. Thời gian này ông có tham gia đàn áp cuộc nổi
dậy của Thổ Ty Hoàng Văn Đồng ở mỏ
đồng Tụ Long (xưa thuộc Tuyên Quang). Sau đó ít
lâu, ông lại đi kinh lược xưởng đúc bạc
ở mỏ Tông Tinh (Thái-Nguyên).
Năm 1780, xảy ra vụ
án Trịnh Khải, ông có dính líu đến vụ án này nên dư
luận cho là "Sát tứ phụ như thị lang"
(Giết bốn người cha được chức thị
lang). Và cũng chính v́ lư do đó năm 1782, sau khi Trịnh
Khải nắm quyền, ông phải trốn ra vùng mà ngày nay
thuộc Thái-B́nh Hà-Nam-Ninh. Trong thời gian này ông vẫn sáng
tác đó là tập thơ Thủy Vân nhàn vịnh và bộ Xuân
Thu Quân Kiến ra đời.
Năm Bính Ngọ 1786, Nguyễn
Huệ ra Bắc lần thứ nhất chấm dứt quyền
thống trị của họ Trịnh. Ngô Thời Nhậm
từ am Lệ-Trạch (Thái-B́nh) trở về Thăng Long
nhận chức đô cấp sự trung bộ hộ, kiêm
toàn tru Quốc sử của triều Lê Chiêu Thống.
Tháng 6 năm Mậu Thân
1788, Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai, Lê Chiêu Thống
bỏ trốn. Ngô Thời Nhậm về ở ẩn tại
thôn Kim Quan, huyện Thạch-Thất, Sơn-Tây, kết thúc
cuộc đời làm quan cho triều đ́nh Lê Trịnh.
Trong những năm này ông viết nhiều sách như Kim Mă
Hành Dư, Hào Mân Ai Lục và tập thơ Bát Hải Tùng Đàm.
Ít lâu sau, do Trần Văn
Kỷ giới thiệu với Nguyễn Huệ, ông được
làm Thị Lang Bộ Công, tước Tŕnh phái hầu. Đây
cũng là bước ngoặt của cuộc đời Ngô
Thời Nhậm. Ngày Lê Chiêu Thống rước hơn 20 vạn
quân Thanh sang dày xéo đất nước, Ngô Thời Nhậm
đă thay Quang Trung viết bài chiếu lên ngôi, ông c̣n hiến
kế rút quân về Tam-Điệp để tạo cơ
hội cho Nguyễn Huệ mở cuộc hành quân thần tốc,
lập nên chiến thắng Kỷ Dậu (1789) lịch sử.
Sau chiến thắng, Ngô
Thời Nhậm cùng Phan Huy Ích được giao trách nhiệm
tùy tiện ứng phó với nhà Thanh để yên việc
chiến tranh. Các văn kiện ngoại giao do ông thảo
trong thời kỳ này được tập hợp thành
quyển Bang Giao Hải Thoại và cả trong Bang Giao tập.
Năm Canh Tuất 1790, ông
được thăng Thượng Thư Bộ Binh; hai năm
sau, kiêm chức Tổng Tài Quốc Sử Quán. Vua Quang Trung mất
1792, đầu năm sau, ông được triều đ́nh
cử làm chánh sứ sang nhà Thanh báo tang và cầu phong cho
Quang Toản. Ông đă được Thanh Càn Long tiếp và
được gặp các sĩ phu Tàu, những sáng tác của
ông lúc này được tập hợp trong Hoàng Hoa Đồ
Phả c̣n gọi là Sứ Tŕnh Thi Họa hay Hoa Tŕnh thi Vấn
Gia.
Năm 1797, ông trông coi việc
san tu quốc sử, nhân dịp này ông đă đem bộ sử
của cha ḿnh là Đại Việt Sử Kư Tiền Biên ra
khắc in (gồm 17 quyển, chính là Đại Việt Sử
Kư Toàn Thư nhưng đă được Ngô Thời Sĩ
bổ sung tài liệu và xen vào những lời án của họ
Ngô (Việt Sử Tiêu Án) và lời án của Nguyễn Nghiễm).
Năm 1798, nhân được giữ chức Giám Từ Văn
Miếu Bắc thành, ông cho sửa sang các nơi và xin mở
các kỳ thi. Nhưng cũng trong thời gian này, nội bộ
triều đ́nh Quang Toản lục đục, do đó quân
Tây Sơn đă bất lực trước sức tấn công
của Nguyễn Ánh. Ngô Thời Nhậm buồn bă trở về
mở thiền viện ở nhà riêng tại phường Bích
Câu, viết tập Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh.
Sau khi Nguyễn Ánh kéo quân
ra Bắc, Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Gia Phan…đều
bị đưa ra Văn Miếu đánh đ̣n. V́ có hiềm
ức với Đặng Trần Thường, nên tuy là bạn
cũ, ông đă bị y sai đánh một cách cố ư. Ông mất
ngày 16/2 năm Quư Hợi (7/3/1803). Trong thời kỳ phục
vụ nhà Tây-Sơn, ngoài những tác phẩm kể trên, ông
c̣n viết được tập Hàn Các Anh Hoa và những tập
thơ: Cẩm đường nhân thoại, Cúc Thu Thi Trận,
Thu Cận Đương Ngôn, Liên Hạ Thi Minh…
Tác phẩm đă thực
hiện:
1/ Nhị Thập Thất
Sử Toát Yếu, 1761, thất truyền, có ghi trong Ngô gia thế
phả.
2/ Tứ Gia Thuyết Phả,
1766, thất truyền.
3/ Hải Đông Chí Lược,
1771, thất truyền.
4/ Tự Học Toản Yến, ?, bài tựa trong Kim Mă Hành Dư. Có lẽ là
sách tam Thiên Tự giảng nghĩa.
5/ Công Vụ Thành thư,
1778.
6/ Thánh Triều Hội Giám,
1781, đề cương có nói đến trong Kim Mă Hành Dư.
7/ Bút Hải Tùng Đàm,
1769-1782, có mặt trong Ngô gia thế phả, 3 quyển.
8/ Thủy Vân Nhàn Vịnh,
1782-1786, 3 quyển.
9/ Xuân Thu Quân Kiến,
1782-1786, 2 quyển.
10/ Kim Mă Hành Dư,
1775-1788, 13 quyển.
11/ Hoàng Hoa Đồ Phả,
1793, 7 quyển.
12/ Cúc Thu Thi Trận, 1796,
7 quyển.
13/ Ngọc Đường
Xuân Khiến, 1786-1792, 7 quyển.
14/ Cẩm Đường
Nhàn Thoại, 1795-1797, 4 quyển.
15/ Thu Cận Dương
Ngôn, 1797-1798, 4 quyển.
16/ Hào Mán Ai Lục, 1780,
1800, 5 quyển.
17/ Bang Giao Hảo Thoại,
1789-1800, 11 quyển.
18/ Hàn Các Anh Hoa, 1789, 1801, 8
quyển.
19/ Liên Hạ Thi Minh, 1800,
thất truyền, chỉ có bài "Thuyết" chép trong
Ngô gia văn phái.
20/ Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên
Thanh, 1798-1802, 2 quyển, không thấy trong Ngô gia thế phả
mà có sách in riêng.
Có một vài người
nhận định rằng chính ông là tác giả bộ tiểu
thuyết lịch sử Hoàng Lê Nhất Thống Chí. Tuy nhiên
trong Ngô gia thế phả và trong tùng thư của Ngô gia văn
phái đều không hề thấy chỗ nào nói như vậy.
Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên
Thanh là tiếng nói của Ngô Thời Nhậm vào lúc cuối
đời. Với tác phẩm này ông xuất hiện như
một nhà tư tưởng. Tuy xuất thân là Nho học,
nhưng tư tưởng thiền tông đă len vào tâm tư
ông vào năm 1798 khi nhà Tây Sơn đi vào cơn khủng hoảng.
Ông trở về nhà cũ mở Trúc Lâm thiền viện tại
phường Bích Câu (gần Văn Miếu, Hà Nội. Ông đă
thuật lại cuộc đời của ḿnh và tư tưởng
ba vị Tổ Trúc Lâm thành Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh chính
là có ư muốn kế tục tinh thần thiền của phái
Trúc Lâm đời nhà Trần.
Ông đặt tên kinh này là
Đại Châu Viên Giác Thanh Kinh chia làm 24 chương một
tên gọi khác là Nhị Thập Tứ Thanh (tức 24 tiếng).
Nó đặc biệt ở chỗ kết hợp tư tưởng
Nho và Phật. Trong thời kỳ mà thực tiễn cuộc
sống xă hội đă làm cho những tín điều Nho giáo
bị lung lay đến tận gốc, th́ quan niệm tam
giáo đồng nguyên đă được biết từ thời
xưa, nay được dịp nhắc lại ở đây.
Kiến giải của ông về lư và dục, tính và tâm, thể
và dụng, sinh và diệt không phải không có những nét độc
đáo và mới mẻ. Như Phan Huy Ích đă cho biết
trong lời tựa kinh Đại Chân Viên Giác Thanh (Bính th́n
1796), Ngô Thời Nhậm "là một người kinh nghiệm
rất giàu, sở đắc rất tinh, tam giáo cửu lưu,
bách gia chu tử, không ǵ là không nghiền ngẫm đến
nơi đến chốn". Nghiên cứu cái giá trị
tinh thần phá chấp của ông trong "Trúc Lâm Tông Chỉ
Nguyên Thanh" sẽ giúp ta t́m hiểu phần nào tư tưởng
của một thời kỳ sôi động cuối thế
kỷ 18. Người đương thời gọi ông là
Tổ thứ tư Trúc Lâm. Hai nhà sư Hải Ḥa và Hải
Âu thường giao du với ông vẫn gọi ông là Hải
Lượng Đại Thiền Sư.
Cao
Xuân Huy, Lâm Giang dịch
(*) Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên
Thanh. Sách tham khảo Hán Nôm. Nhà xbkhxh 1978 Hà Nội.