Trích trong

TRUYỀN THỐNG DUNG HÓA

CỦA DÂN TỘC VIỆT VÀ ĐẠO PHẬT.

Tấc ḷng cố quốc tha hương,

Đường kia, nỗi nọ ngổn ngang tơi bời. . .

(Truyện Kiều)

- - - - - -  - - -

 

Tinh thần dung hóa

cuả tư tưởng dân tộc Việt với chữ L̉NG

Tâm Tràng Ngô Trọng Anh

 

Thông thường khi nghe đến hai chữ dung hóa của dân tộc Việt  th́ nhớ ngay câu Vạn Hạnh dung tam tế của Thiền Sư Vạn Hạn thời nhà Lư tức sự dung hóa Tam Giáo. Thật ra tư tưởng Việt đă có truyền thống dung hóa căn cứ trên huyền thoại, huyền sử, ca dao, tục ngữ, tập quán, phong tục, lễ hội và một số ít tài liệu khảo cổ. Học giả Cung Đ́nh Thanh, trong khi chờ đợi sự đóng góp thêm của chư học giả bốn phương, tạm thời phác họa trong tạp chí Tư Tưởng số 8 tháng 6 năm 2000 (trang 5,6)  một đoạn gồm 5 tư tưởng dân tộc căn bản mà tôi xin tóm lượt như sau:

 

1.         Tư tưởng b́nh đẳng ví dụ b́nh đẳng bẩm sinh (Rồng Tiên, 100 trứng Âu Cơ), b́nh đẳng hôn nhân ( trong lựa chọn: Sơn Tinh Thủy Tinh, trong đời sống Chủ Đồng Tử)

 

2.         Tư tưởng đề cao t́nh gia đ́nh vợ chồng, anh em (Trầu Cau), cha con (Chử Đồng Tử), t́nh thị tộc (Hồng Bàng Thị) và quốc gia.

 

3.         Tư tưởng đề cao tinh thần dựng nước, giữ nước (Thánh Gióng),dựng nước (Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh), quản trị đất nước (Bánh Chưng, Bánh Dầy), đề pḥng mất nước (Rùa Thần, Mỵ Châu- Trọng Thủy) được đưa thành đạo sống hiện tiền.

 

4.         Tư tưởng chết là chưa hết đề cao đời sau hay dở tùy cái nhân đời trước (Chử Đồng Tử, Quả Dưa Đỏ).

 

5.         Tư tưởng Đạo Ba (Thiên Địa Nhân, Trầu Cau Vôi) đặt người ngang hàng với trời đất (Bánh Chưng, Bánh Dầy), đi đến quan niệm Vạn Vật Đồng Nhất Thể (hai GS Nguyễn Đăng Thục và Kim Định thích món này lắm).

 

Tư tưởng b́nh dân giản dị nhưng sâu sắc của người nông dân Việt chất phác và hiếu ḥa là sự chấp nhận mọi sự cai trị của ai đem lại cho họ một đời sống ổn định b́nh thường thanh đạm Người ta đi cấy lấy công, tôi đây đi cấy c̣n trông nhiều bề, trông trời trông nước trông mây, trông mưa,  trông gió trông ngày trông đêm, trông sao chân chứng đá mềm, trời yên bể lặng mới yên tấm ḷng. Để đổi lại người nông dân này sẳn sàng thi hành đúng nhiệm vụ công dân đóng thuế thời b́nh và hy sinh đời sống khi có quốc biến: Một tay th́ cắp hỏa mai, một tay cắp giáo quan sai xuống thuyền. Thùng thùng trống đánh ngũ liên. Bướùc chân xuống thuyền nước mắt như mưa... .

 

Nông dân Việt không bao giờ đấu tranh giai cấp và tôn trọng những bậc đức rộng tài cao. Rủi gặp phải người cai trị xa dân, thiếu đức và bất tài, nhưng nếu đời sống b́nh thường không bị xáo trộn nhiều, họ vẫn thầm lặng nhẫn nhục chịu đựng. Họ biết chờ minh chủ lănh đạo họ đứng dậy chống lại và sẵn sàng tha thứ nếu kẻ cai trị c̣n giữ liêm sĩ biết hối hận. hay đầu hàng.

 

Trong những cuộc nội chiến giữa các “Nhà phong kiến” như Trịnh/ Mạc, Trịnh/Nguyễn hay Nguyễn Phúc và Nguyễn Tây Sơn, sự hận thù chỉ có giữa  các “nhà” với nhau c̣n binh sĩ hay quan quân hai bên đều dược tha mạng hay sử dụng lại. Không bao giờ có vụ thanh toán tập thể người vô tội như cộng sản VN thực hiện trong vụ cải cách ruộng đất ngoài Bắc, vụ Tết Mậu Thân ở Huế hay vụ tàn sát các đạo Cao Đài/Hoà Hảo trong Nam. Đối với kẻ thù ngoại xâm th́ dân tộc Việt chủ trương Tâm công:

 

Lấy Chí Nhân mà thay cường đạo. Lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn.

Chữ Tâm Nguyễn Trải chính là chữ Tâm của Nguyễn Du:

Thiện căn ở tại ḷng ta, Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài.

 

Theo Tự Điển Hán Việt Đào Duy Anh (1931. trang 242, Tập Hạ) chử Tâm có nghĩa là trái tim; nhưng theo Từ Điển Chuyện Kiều Đào Duy Anh (1974, trang 360) chữ Tâm có nghĩa là ḷng. xuất hiện 10 lần, đó là chữ Tâm Lạc Việt ví dụ: Lửa Tâm càng dập càng nồng, hoặc Ngày pho thủ tự, đêm nồi tâm hương. Chữ Tâm dân Việt  không bao giờ là trái tim.

 

Sự cao thượng của người dân Việt Nam được tŕnh bày với chữ ḷng của Nguyễn Du và chữ ḷng này xuất hiện 162 lần trong Truyện Kiều (Từ Điển Chuyện Kiều 1974, trang 223) và không có một chữ tim nào hiện diện trong toàn Truyện Kiều. Văn hóa mọi nơi đều “yêu bằng tim” văn hóa dân tộc Việt “yêu trong ḷng”. 

 

E. Bụng làm dạ chịu

 

Năm 1963, tôi được Ḥa Thượng Đôn Hậu (1) kể câu chuyện: Một Tướng Hoa Kỳ đến viếng chùa Linh Mụ và hỏi Ngài tại sao bụng Đức Phật Di Lặc (nằm ngay trước chánh điện) quá lớn như vậy. Ngài trả lời rằng đức Phật Di Lặc cảm xúc bằng bụng (không bằng trái tim)  suy tư bằng dạ (không bằng bộ óc). Bụng làm dạ chịu.

 

Tướng Hoa Kỳ đành lắc đầu không hiểu nổi. Làm sao mà con người có thể không tính toán hơn thiệt bằng bộ óc, cũng như không thương ghét giận hờn bằng trái tim. Làm sao mà Tuớng Mỹ hiểu được ông Phật Việt Nam rộng bụng dung hóa mọi khác biệt thế gian với một nụ cười hồn nhiên hài hước.

 

Ngài Linh Mụ cười nói với tôi: Bụng làm dạ chịu là luật nhân quả, nôm na là cái nghiệp, ḿnh tạo nghiệp nhân th́ ḿnh lănh nghiệp quả, nghiệp có truyền kiếp hay không là do ḿnh muốn chấm dứt hay không, đừng có kêu trời: Thật đúng với câu Kiều:

 

Đă mang lấy nghiệp vào thân,

Cũng đừng trách lẫn trời gần, trời xa.

 

Phạm Công Thiện trong tập Nguyễn Du, Đại Thi Hào Dân Tộc, có 4 đoạn nói về chữ Ḷng, nhưng ở đây tôi chỉ tŕnh  đoạn 8 và 9

 

1-         ở đoạn 8 “Triết Lư Việt Nam về Chữ Ḷng” tác giả chú trọng vào tư tưởng bất nhị không năng (chủ thể) và không sở (khách thể) của chữ Ḷng để thẩm thấu ư nghĩa của chữ Trong (ḷng) Trung Đạo. Tác giă chỉ ghi chữ ḷng đầu tiên trong câu những điều trông thấy mà đau đớn ḷng trong đời người (trăm năm trong cơi người ta) xem như đầy đủ

 

2-         và ở đoạn  9 “Chữ Ḷng trong Ngôn Ngữ và Tư Tưỏng Triết Lư của Nguyễn Du” tác giả, tuy triết gia mà không-triết gia, có tiếng rắc rối nhất về ngôn ngữ để tŕnh bày một cách sâu sắc những tư tưởng giản dị nhất về Cái, Con, Con Cái, v.v. , đă cho rằng không phải dễ dàng hiểu được Nguyễn Du mặc dầu vị đại thi hào dân tộc này dùng một loại ngôn ngữ dễ hiểu mua vui cũng được một vài trống canh, và triết gia nhớ câu bất nhị không chủ thể khách thể, phi không/thời gian sau đây: Tưởng bây giờ là bao giờ, Rơ ràng mở mắt c̣n ngờ chiêm bao. Triết gia nhớ tất cả chữ Ḷng, bắt đầu với ù chữ Ḷng vô thường là khổ: Những điều trông thấy mà đau đớn ḷng, rồi kết luận với chữ Ḷng Phật tại Tâm: Thiện căn ở tại ḷng ta.

Xin mạn phép nhắc tác giả một chữ Ḷng đặc biệt ở đoạn giữa:

 

Đêm thu khắc lậu canh tàn, Gió cây trút lá trăng ngàn ngậm gương.

Lối ṃn cỏ lợt màu sương. Ḷng quê đi một bước đường một đau..

 

Ḷng quê của dân tộc Việt luôn luôn Tưởng, Biết, Nhớ, Cảm Thấy rằng quê hương đang mất dần vốn liếng gia tài bốn ngh́n năm văn hiến để đến nổi ngày nay cảm thấy thân tàn trong nước và ma dại ngoài nước, dân tộc Việt lâm nạn đi một bước đường một đau. Đau nhất là quốc tế tài phiệt/mafia và cộng sản VN đang dùng thuốc độc đô la quyết giết ḷng quê này. Nhưng nhắc đến Nguyễn Du mà quên nói Nguyễn Trải là thiếu sót lớn v́ Tâm Công B́nh Ngô Đại Cáo là quyết lấy ḷng dân - bạn cũng như thù-  tức ḷng quê trước khi Truyện Kiều ra đời. Rồi cả hai Ngài trước sau đều được Cơ Quan Văn Hóa Liên Hiệp Quốc vinh danh (2) . Đó là việc lớn, c̣n việc nhỏ, nói đến Nguyên Tánh và nói đến thơ Kiều mà quên thi sĩ Thi Vũ th́ cũng không ổn.

 

Ḷng quê Vơ Văn Ái đau lắm; vâng, khốn khổ trăm bề. Năm 1985, thi sĩ kêu gào thống thiết: Mở miệng ra chỉ nghe nói đến thanh danh các ông ấy (Platon, Aristote, Rousseau . . . Kant, Nietzsche, Marx, Lenine, Staline, Sartre, Heiđeger, Gasper ..... v.v). Chẳng khác ǵ học giới trước kia, quất roi xuống là Khổng tử viết, Mạnh Tử viết ... Cảnh huống này đưa tới phủ nhận: Việt Nam không có triết học! Việt Nam không có tư tưởng!. Dù vẫn bô bô đề cao “4000 năm văn hiến”. Không có tư tưởng, tất nhiên khi hành động, đành nhắm mắt, dựa lưng vào các triết gia ngoại quốc kia. Đương nhiên. Điều ấy thấy rơ qua cuộc tranh chấp Quốc - Cộng không lối thoát từ bốn mươi năm qua. Chúng ta đánh nhau, giết nhau, cải tạo nhau . .. không v́ vua Hùng hay 5000 năm văn hiến Việt. Chúng ta thảm sát nhau v́ một lư lẽ độc nhất: theo hay không theo ông Marx, ông Lénine! (Vơ Văn Ái . Nguyễn Trải, Sinh Thức và Hành Động, trang 13. Gennevilliers, 1.10.85)

 

F.         Phật Giáo và tư tưởng dân tộc Việt

 

Công đức của TT Thích Trí Siêu (Lê Mạnh Thát) là vô lượng trong công cuộc sưu tầm lịch sử Phật giáo VN qua các thời đại (3).Tập I Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam (dày gần 900 trang của trọn bộ 3 tập) được Thượng Tọa giới thiệu như sau:

 

Phật giáo tuy là một hiện tượng văn hóa nước ngoài truyền vào nước ta, đă được nhân dân tiếp thu và vận dụng vào đời sống dân tộc và đóng một vai tṛ lịch sử nhất định trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Cho nên nghiên cứu kịch sử dân tộc không thể không nghiên cứu lịch sử Phật giáo. Lịch sử Phật giáo Việt Nam đă trở thành một bộ môn của lịch sử dân tộc. . . Theo chúng tôi, lịch sử Phật giáo Việt Nam có thể chia làm ba thời kỳ lớn: Thời kỳ thứ nhất, từ nguyên khởi cho đến khi Lư Bôn xưng đế lập nên Nhà Nước Vạn Xuân. Thời kỳ thứ hai, bắt đầu từ lúc ḍng thiền Pháp Vân ra đời cho đến cuối đời Trần. Thời kỳ thứ ba, từ đầu đời Lê tới cận đại. Mổi giai đoạn có mỗi nét đặc trưng và một quá tŕnh phát triển tất yếu của nó.

 

Thật ra th́ dân tộc ta vốn có một nền tảng văn hóa có thể nói là bẩm sinh có tính chất đặc thù:  dung hóa tất cả mọi hiện tượng văn hóa nước ngoài truyền vào nước ta. Những văn hóa ấy ngoài Phật giáo, như Lăo giáo, Nho Giáo hay những tôn giáo khác sau này đều được dân tộc Việt đón tiếp với một tấm ḷng bao dung  để có thể tiếp thu và vận dụng được vào đời sống hằng ngày. Thượng tọa Trí Siêu đă làm một công tŕnh vô cùng quí báu để chứng minh tại sao lịch sử Phật giáo lại trở thành một bộ môn của lịch sử dân tộc.

 

Mục đích hạn chế của bài này không cho phép theo rơi sự tiến triển lịch sử của mọi sự dung hóa giữa tư tưởng dân tộc Việt và Phật giáo hay sự dung hóa vĩ đại với tất cả tôn giáo theo quan niệm Vạn Vật Đồng Nhất Thể. Bài này chỉ cố gắng tŕnh bày một cách khiêm tốn lư do tại sao tư tưởng Phật giáo mới được truyền vào th́ gắn bó ngay với tư tưởng dân tộc Việt một cách quá dễ dàng như vậy. Tôi trực nhận được điều này nhờ thi sĩ Phạm Thiên Thư, một tu sĩ hoàn tục, tác giả Kinh Ngọc (Kim Cang), Kinh Vàng (Pháp Cú, Kinh Ḷng (Tâm Kinh)  v.v. 

 

Chỉ có thi sĩ kiêm tu sĩ mới trực nhận dễ dàng sự tương đồng của tinh thần Phật Giáo và tinh thần dân tộc Việt trong môi trường cộng nghiệp: Hai bên dung hóa hổ tương cho nhau, và đây là một ứng cảm tâm linh bất khả tư nghị. Chữ Tâm trong chú Bát Nhă Tâm Kinh tức chử Tâm Hán tự (nửa vành trăng khuyết ba sao giữa trời) cũng như chữ Hridaya Phạn ngữ là trái tim (4) . Nhưng nông dân Việt khác với tất cả mọi người trên thế giới ở điểm này: chữ Tâm Bát Nhă vẫn ở trong ḷng quê dân tộc. Năm ngàn năm văn hiến là ở nơi đây.

 

G.        Mở rộng tấm ḷng

 

Hoà Thượng Thích Đức Nhuận (5) giúp sinh linh rung động Kinh Ḷng, cảm ứng Tâm Công Nguyễn Trải và trực nhận Ḷng Quê Nguyễn Du trong tác phẩm Phật Học Tinh Hoa, Một Tổng Hợp Đạo Lư (trang 30,31) như sau: Cũng nên nói: Đạo Phật là đạo của mọi người, của muôn loài, với giáo lư thực tiển ba điều:

 

1-         Mở rộng cơi ḷng ....

2-         Đưa sinh linh đến ánh sáng chân lư.

3-         Xây dựng một xă hội công b́nh và hạnh phúc.

 

MỞ RỘNG CƠI L̉NG: Tất cả hiện tượng trong vũ trụ đều có mối tương quan mật thiết với nhau. Sở dĩ có sự riêng biệt là do sự mê chấp của từng cá thể, gọi theo danh từ Phật học là “chấp Ngả”. Bằng vào “Vô Ngă Pháp”, đạo Phật khuyên ta mở rộng hai tay ôm vũ trụ vào ḷng, và đừng bao giờ con người khép kín tâm tư lại. Hảy sẵn sàng đón lấy nhân đạo và từ bi. Quên đi những cái “ta “ ích kỷ, nhỏ hẹp để được yêu vũ trụ rộng lớn . . .

 

Ngộ nhận một cái “ta” riêng biệt, tức là tạo một ung nhọt trong thân thể vũ trụ.

 

Bởi nhận định như vậy, nên việc khuyên người Mỡ rộng cơi ḷng nhận toàn thể là ḿnh, đấy là công việc trước tiên của đạo Phật.

 

Hoà Thượng dạy đúng. Phải mở rộng cỏi ḷng mới có khả năng trí tuệ đưa sinh linh đến ánh sáng chân lư và có dũng tính để xây dựng một xă hội công b́nh và hạnh phúc. Và Ngài dạy đó là giáo lư thực tiển. Người nông dân Việt rất thực tiển, họ dung hóa ngay, nuốt giáo lư đó vào ḷng, thuộc ḷng.

 

 Những đại sư ngày xưa tu cao, học rộng, đạo đức b́nh dân luôn luôn mỡ rộng tấm ḷng nên được đồ chúng tôn kính. Để chấm đứt bài này tôi xin tŕnh bày giai thoại bao gồm 12 Nhân Duyên và Bát Nhă Tâm Kinh bằng 4 câu thơ tứ tuyệt nôm na hài hước trong ḷng 1 trái quít dân tộc Hương Cần, diễn đạt câu Ai ăn nấy no, ai tu nấy chứng:

 

Số là các thiền sư dân tộc Việt thường là thi sĩ nên Sư Viên Thành chùa Tra Am (tức Công Tôn Hoài Trấp ḍng Định Viễn) và Sư Giác Tiên chùa Trúc Lâm (xuất thân con nhà ḍng dơi, tinh thông nho học) là bạn tu mà cũng là bạn thơ, thường bút đàm  với nhau bằng thơ. Sau đây là bài tứ tuyệt viết trong giấy hoa tiên được Sư Viên Thành cho đệ tử chuyển sang Trúc Lâm với một trái quít Hương Cần:

 

Ngọt ngào không rơ đặng trong ḷng,

Rơ đặng trong ḷng, biết đục trong,

Biết đục trong? hăy xin nếm thử,

Hăy xin nếm thử, ngọt ngào không?

 

Đặc điểm của bài tứ tuyệt Bất khả tư nghị làm theo thể ṿng tṛn: các chữ cuối câu 1 trùng với các chữ đầu câu 2 và như thế, các chữ cuối câu 4 lại trùng với các chữ đầu câu 1. Sư Viên Thành muốn diễn tả trái quít tṛn như bài tứ tuyệt lẩn quẩn luân hồi như kiếp chúng sanh.

 

Đặc điểm của phong kiến dân tộc Việt là có trí tuệ trong bụng dạ b́nh dân nên có khả năng lănh đạo mọi công cuộc dựng nước và giữ nước. Do đó dân tộc Việt từ cấp lănh đạo đến nông dân cùng nhau suy tôn những bực tôn túc rộng cơi ḷng, lên làm quốc sư cũng là việc dễ hiểu thôi.

 

Để chấm dứt bài này tôi xin tôi xin đê đầu đảnh lễ nguyện cầu Chư Tôn Ḥa Thượng, Chư Thượng Tọa trong Giáo Hội PGVNTN Hải Ngoại tiếp tục mở rộng cơi ḷng  theo tinh thần Chúc thư ngày 15-11-91 của Ngài Đôn Hậu, Chánh Thư Kư Xử Lư Viện Tăng Thống gởi Chư Tôn Ḥa Thượng, Chư Thượng Tọa Trong Hội Đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN:

 

Tôi tuy xa cách quư vị, và sẽ c̣n xa cách vô hạn định (Ngài viên tịch ngày 23-4-92) nhưng chí nguyện của tôi vẫn luôn luôn gắn bó cùng quư vị trên bước đường phục vụ Đạo Pháp – Dân Tộc

 

– Nhân Loại và Chúng sinh.

 

Dân Tộc nơi Nguyễn Trải, Lịch Sử Manh Động của Nho Giáo VN v.v.

 

CHI CHÚ:

(1)  Ngài phản đối việc thống nhất Phật giáo 2 miền thành Giáo Hội Phật Giáo VN dưới sự chỉ đạo và kiểm soát của nhà nước mặc dầu họ gán phong cho Ngài làm Phó Pháp Chủ của Giáo Hội này và viết văn thư ngày 14-7-1982 phản đối việc bức tử GHPGVNTN bằng cách cho Giáo Hội Phật Giáo VN đến chiếm trụ sở Văn Pḥng Viện Hóa Đạo ở chùa Ấn Quang. Ngài yêu cầu  Tăng Ni Phật Tử VN Hải Ngoại thống hợp thành lập Giáo Hội VNTN Hải Ngoại bằng Tâm thư ngày 10.9/1991, Thông Điệp ngày 31/10./991 và Chúc Thư ngày 15/11/1991. Ngày 20, 21/3/1992 tại Phật Học Viện Quốc Tế (Sepluveda .CA , Ủy Ban Điều Hợp Thành Lập  Ban Tổ Chức Đại Hội Thống Nhất Phật Giáo VN tại Hoa Kỳ được thành lập. Ngày 17, 18 /4/92 Ban Tổ Chức Đại Hội Thống Nhất Phật Giáo VN tại Hoa Kỳ được hoàn thành. Ngày 23/4/92 Ngài viên tịch  ngày 25,26,27/9/1992 Đại Hội Thống Nhất Phật Giáo VN tại Hoa Kỳ  kết hợp 86 đơn vị long trọng xác nhận sự chính thống lănh đạo của GHPGVNTN tại quê nhà hiện do HT Thích Huyền Quang là đại diện chân chính.

 

(2) Việc này làm cho Cộng sản Việt Nam đau khổ v́ tuy chúng chỉ muốn vinh danh Hồ Chí Minh và viết như sau trong Truyện Kiều, (Nguyễn Du. Truyện Kiều. Nhà Xuất Bản Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp. Hà Nội 1972): Nguyễn Du không thể thấy lối thoát trong ṿng vây của giai cấp, ông, thời đại ông. Phải đến những năm đầu của thế kỷ 20, khi bàn tay vấy máu của thực dân Pháp cướp nước cùng với phong kiến phản động bóp nghẹt tâm hồn và thân thể của dân tộc ta, Chủ Tịch Hồ Chí Minh, người thầy vĩ đại của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam, mới t́m ra được lối thoát. Người đă dùng ánh sáng của chủ nghĩa Mác- Lê Nin mở ra một con đường cứu nước cứu dân hoàn toàn mới, phát huy đạo lư làm người của ông cha ta trở thành đạo lư làm người cộng sản chủ nghĩa, yêu nước, yêu dân, đạo lư cách mạng chủ nghĩa nhân ái cộng sản. Năm 1990 nhà văn hóa Hồ Chí Minh được quốc tế tài phiệt/mafia và cộng sản VN đề nghị cơ quan Văn Hóa Liên Hiệp Quốc vinh danh nhưng bị bác bỏ   đương sự đạo văn Ngục Trung Thư  và là tội đồ dân tộc.

(3) với những tác phẩm như  Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, Thiền Uyển Tập Anh, Khương Tăng Hội Toàn Tập, Chân Nguyên Thiền Sư Toàn Tập III, Thiên Am Ngữ Lục, An Thiền Thiền Sư Toàn Tập, Lục Độ Tập Kinh và Lịch Sử Khởi Nguyên Dân Tộc Ta, Nghiên Cứu về Mâu Tử, Vấn Đề Thừa Kế Văn Hóa Dân Tộc nơi Nguyễn Trải, Lịch Sử Manh Động của Nho Giáo VN v.v. TT Trí siêu là một nhân vật lạ lùng thông thạo cổ ngữ cũng như ngoại ngữ, có nhiều bằng tiến sỹ tại Hoa Kỳ, Triết Học, Thần Học, Toán Học và Y Khoa ... một trí tuệ siêu phàm, một trong những cao tăng VN (Huyền Quang, Quảng Độ Đức Nhuận, Tuệ sỹ v.v.) xem việc bị cộng sản giam tù hàng chục năm như không (bị Công An bắt ngày 23-3-84 cùng với TT Thích Tuệ Sỹ và nhiều vị khác bắt bảy ngày trước khi HT Trí Thủ bị công an đem xe đến chùa bắt đi bệnh viện và bức tử tại đó, TT trí Siêu được thả năm 1998.

 

(4) Ḥa Thượng Thanh Từ  trong tập giảng Bát Nhă Tâm Kinh đă lầm chử Tâm Hridaya Tâm Kinh là chữ Tâm Citta Duy Thức. Ḥa Thượng cũng không dung hóa được chữ  Ḷng Tâm Kinh nên cũng không dung hóa được Tịnh Độ và Mật Tông trong diễn văn khai mạc chùa Trúc Lâm Đàlat năm 1994: “Đến đường lối tu trong các chùa Phật giáo Bắc Tông hiện nay, hầu hết đều pha lẫn Tịnh Độ và Mật Tông. Hai tông phái này lấy ḷng tin làm căn bản -tín hạnh nguyện- lấy tha lực làm chổ nương tựa - Cầu Phật rước về Cực Lạc - V́ thế người Phật tử mất dần ḷng tin”. Ḥa Thượng thắc mắc: “các Kinh Luận hầu hết đều dạy tu thiền, tại sao Sư Ông và Thầy tôi dạy tu Tịnh Độ?” (trích trong tác phẩm Ba Vấn Đề Trọng Đại Trong Đời Tu Của Tôi). Việt Cộng xây 8 Tu Viện để lợi dụng Ḥa Thượng trong mưu đồ hủy diệt tinh thần dung hóa của Phật Giáo Truyền Thống Việt Nam (Thiền Tịnh song tu hay Thiền Tịnh Mật tam Tu) kể từ khi Giáo Hội PGTN không chịu quốc doanh hóa,

 

(5) Hoà Thượng Đức Nhuận nguyên Chánh Thư Kư Viện Tăng Thống, tác giả Trao Cho Thời Đại Một Nội Dung Phật Chất và Phật Học Tinh Hoa, Một Tổng Hợp Đạo Lư bị bắt giam tại khám Phan Đăng Lưu tháng 5 1985 v́ là Cố Vấn cho Ủy Ban Bảo Vệ Phật Giáo và Cứu Nguy Dân Tộc do TT Tuệ Sỹ và Trí Siêu lănh đạo. Thầy Thích Nguyên Thể (hiện học ở Berkeley) cũng bị giam ở khám Phan Đăng Lưu cho biết HT là người tù bị công an hành hạ nặng nề nhất trong đó có nhiệm vụ quét dọn các pḥng vệ sinh của nhà tù. Lư do Ngài nhất quyết khai rằng ngài không phải là cố vấn mà chính là lănh đạo Ủy Ban xin được tử h́nh và xin tha bổng cho tất cả v́ vô tội .

 

Tâm Tràng Ngô Trọng Anh