Trích trong
TRUYỀN THỐNG DUNG HÓA
CỦA DÂN TỘC VIỆT VÀ ĐẠO
PHẬT.
Tấc ḷng cố quốc tha hương,
Đường kia, nỗi nọ ngổn ngang tơi bời. . .
(Truyện Kiều)
- - - - - - - - -
Tinh thần dung hóa
cuả tư
tưởng dân tộc Việt với chữ L̉NG
Tâm Tràng Ngô Trọng Anh
Thông thường khi nghe đến hai chữ dung hóa
của dân tộc Việt th́ nhớ ngay câu Vạn
Hạnh dung tam tế của Thiền Sư Vạn Hạn
thời nhà Lư tức sự dung hóa Tam Giáo. Thật ra tư
tưởng Việt đă có truyền thống dung hóa
căn cứ trên huyền thoại, huyền sử, ca dao,
tục ngữ, tập quán, phong tục, lễ hội và
một số ít tài liệu khảo cổ. Học giả
Cung Đ́nh Thanh, trong khi chờ đợi sự đóng góp
thêm của chư học giả bốn phương,
tạm thời phác họa trong tạp chí Tư
Tưởng số 8 tháng 6 năm 2000 (trang 5,6) một đoạn gồm 5 tư
tưởng dân tộc căn bản mà tôi xin tóm
lượt như sau:
1. Tư tưởng
b́nh đẳng ví dụ b́nh đẳng bẩm sinh
(Rồng Tiên, 100 trứng Âu Cơ), b́nh đẳng hôn nhân ( trong lựa chọn: Sơn Tinh Thủy Tinh,
trong đời sống Chủ Đồng Tử)
2. Tư tưởng
đề cao t́nh gia đ́nh vợ chồng, anh em (Trầu
Cau), cha con (Chử Đồng Tử), t́nh thị tộc
(Hồng Bàng Thị) và quốc gia.
3. Tư tưởng
đề cao tinh thần dựng nước, giữ
nước (Thánh Gióng),dựng nước (Ngư Tinh,
Hồ Tinh, Mộc Tinh), quản trị đất
nước (Bánh Chưng, Bánh Dầy), đề pḥng
mất nước (Rùa Thần, Mỵ Châu- Trọng
Thủy) được đưa thành đạo sống
hiện tiền.
4. Tư tưởng chết
là chưa hết đề cao đời sau hay dở tùy
cái nhân đời trước (Chử Đồng Tử,
Quả Dưa Đỏ).
5. Tư tưởng
Đạo Ba (Thiên Địa Nhân, Trầu Cau Vôi)
đặt người ngang hàng với trời đất
(Bánh Chưng, Bánh Dầy), đi đến quan niệm
Vạn Vật Đồng Nhất Thể (hai GS Nguyễn
Đăng Thục và Kim Định thích món này lắm).
Tư tưởng b́nh dân giản dị nhưng sâu
sắc của người nông dân Việt chất phác và
hiếu ḥa là sự chấp nhận mọi sự cai
trị của ai đem lại cho họ một đời
sống ổn định b́nh thường thanh đạm
Người ta đi cấy lấy công, tôi đây đi
cấy c̣n trông nhiều bề, trông trời trông
nước trông mây, trông mưa, trông gió trông ngày trông đêm,
trông sao chân chứng đá mềm, trời yên bể
lặng mới yên tấm ḷng. Để đổi lại
người nông dân này sẳn sàng thi hành đúng nhiệm
vụ công dân đóng thuế thời b́nh và hy sinh
đời sống khi có quốc biến: Một tay th́ cắp hỏa mai, một tay cắp
giáo quan sai xuống thuyền. Thùng thùng trống đánh ngũ liên. Bướùc chân xuống
thuyền nước mắt như mưa... .
Nông dân Việt không bao giờ
đấu tranh giai cấp và tôn trọng những bậc
đức rộng tài cao. Rủi gặp phải người cai
trị xa dân, thiếu đức và bất tài, nhưng
nếu đời sống b́nh thường không bị xáo
trộn nhiều, họ vẫn thầm lặng nhẫn
nhục chịu đựng. Họ biết chờ minh
chủ lănh đạo họ đứng dậy chống
lại và sẵn sàng tha thứ nếu kẻ cai
trị c̣n giữ liêm sĩ biết hối hận. hay đầu hàng.
Trong những cuộc nội chiến giữa các “Nhà
phong kiến” như Trịnh/ Mạc, Trịnh/Nguyễn hay
Nguyễn Phúc và Nguyễn Tây Sơn, sự hận thù
chỉ có giữa các “nhà” với
nhau c̣n binh sĩ hay quan quân hai bên đều dược tha
mạng hay sử dụng lại. Không bao
giờ có vụ thanh toán tập thể người vô
tội như cộng sản VN thực hiện trong vụ
cải cách ruộng đất ngoài Bắc, vụ Tết
Mậu Thân ở Huế hay vụ tàn sát các đạo Cao
Đài/Hoà Hảo trong
Lấy Chí Nhân mà thay cường
đạo. Lấy
đại nghĩa mà thắng hung tàn.
Chữ Tâm Nguyễn Trải chính là chữ Tâm của
Nguyễn Du:
Thiện căn ở tại ḷng ta, Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài.
Theo Tự Điển Hán Việt Đào Duy Anh (1931.
trang 242, Tập Hạ) chử Tâm có nghĩa là trái tim; nhưng theo Từ Điển Chuyện
Kiều Đào Duy Anh (1974, trang 360) chữ Tâm có nghĩa là
ḷng. xuất hiện 10 lần, đó là
chữ Tâm Lạc Việt ví dụ: Lửa Tâm càng dập càng nồng, hoặc Ngày
pho thủ tự, đêm nồi tâm hương. Chữ Tâm
dân Việt không
bao giờ là trái tim.
Sự cao thượng của người dân Việt
Nam được tŕnh bày với chữ ḷng của
Nguyễn Du và chữ ḷng này xuất hiện 162 lần trong
Truyện Kiều (Từ Điển Chuyện Kiều 1974,
trang 223) và không có một chữ tim nào hiện diện trong
toàn Truyện Kiều. Văn hóa mọi nơi đều
“yêu bằng tim” văn hóa dân tộc
Việt “yêu trong ḷng”.
Năm 1963, tôi được Ḥa Thượng Đôn
Hậu (1) kể câu chuyện: Một Tướng Hoa
Kỳ đến viếng chùa Linh Mụ và hỏi Ngài
tại sao bụng Đức Phật Di Lặc (nằm ngay
trước chánh điện) quá lớn như vậy. Ngài
trả lời rằng đức Phật Di Lặc cảm
xúc bằng bụng (không bằng trái tim) và suy tư bằng dạ
(không bằng bộ óc). Bụng làm dạ
chịu.
Tướng Hoa Kỳ đành lắc
đầu không hiểu nổi. Làm sao mà con người có thể không tính toán hơn
thiệt bằng bộ óc, cũng như không thương
ghét giận hờn bằng trái tim. Làm sao
mà Tuớng Mỹ hiểu được ông Phật
Việt
Ngài Linh Mụ cười nói với tôi: Bụng làm
dạ chịu là luật nhân quả, nôm na là cái nghiệp,
ḿnh tạo nghiệp nhân th́ ḿnh lănh nghiệp quả,
nghiệp có truyền kiếp hay không là do ḿnh muốn
chấm dứt hay không, đừng có kêu trời: Thật
đúng với câu Kiều:
Đă mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách lẫn trời gần,
trời xa.
Phạm Công Thiện trong tập Nguyễn Du,
Đại Thi Hào Dân Tộc, có 4 đoạn nói về
chữ Ḷng, nhưng ở đây tôi chỉ tŕnh đoạn 8 và 9
1- ở đoạn 8
“Triết Lư Việt Nam về Chữ Ḷng” tác giả chú
trọng vào tư tưởng bất nhị không năng
(chủ thể) và không sở (khách thể) của chữ
Ḷng để thẩm thấu ư nghĩa của chữ Trong
(ḷng) Trung Đạo. Tác giă chỉ ghi chữ ḷng
đầu tiên trong câu những điều trông thấy mà
đau đớn ḷng trong đời người (trăm
năm trong cơi người ta) xem như đầy
đủ
2- và ở
đoạn 9 “Chữ Ḷng trong
Ngôn Ngữ và Tư Tưỏng Triết Lư của
Nguyễn Du” tác giả, tuy triết gia mà không-triết gia,
có tiếng rắc rối nhất về ngôn ngữ
để tŕnh bày một cách sâu sắc những tư
tưởng giản dị nhất về Cái, Con, Con Cái,
v.v. , đă cho rằng không phải dễ dàng hiểu
được Nguyễn Du mặc dầu vị
đại thi hào dân tộc này dùng một loại ngôn
ngữ dễ hiểu mua vui cũng được một
vài trống canh, và triết gia nhớ câu bất nhị
không chủ thể khách thể, phi không/thời gian sau
đây: Tưởng bây giờ là bao giờ, Rơ ràng mở
mắt c̣n ngờ chiêm bao. Triết gia nhớ tất cả
chữ Ḷng, bắt đầu với ù chữ Ḷng vô
thường là khổ: Những điều trông thấy mà
đau đớn ḷng, rồi kết luận với
chữ Ḷng Phật tại Tâm: Thiện căn ở tại
ḷng ta.
Xin mạn phép nhắc tác giả một chữ Ḷng
đặc biệt ở đoạn giữa:
Đêm thu khắc lậu canh tàn, Gió
cây trút lá trăng ngàn ngậm gương.
Lối ṃn cỏ lợt màu
sương. Ḷng quê
đi một bước đường một đau..
Ḷng quê của dân tộc Việt luôn luôn Tưởng,
Biết, Nhớ, Cảm Thấy rằng quê hương
đang mất dần vốn liếng gia tài bốn ngh́n
năm văn hiến để đến nổi ngày nay
cảm thấy thân tàn trong nước và ma dại ngoài
nước, dân tộc Việt lâm nạn đi một
bước đường một đau. Đau
nhất là quốc tế tài phiệt/mafia và cộng sản
VN đang dùng thuốc độc đô la quyết giết
ḷng quê này. Nhưng nhắc đến Nguyễn Du mà
quên nói Nguyễn Trải là thiếu sót lớn v́ Tâm Công B́nh
Ngô Đại Cáo là quyết lấy ḷng dân - bạn cũng
như thù- tức ḷng quê
trước khi Truyện Kiều ra đời. Rồi
cả hai Ngài trước sau đều được
Cơ Quan Văn Hóa Liên Hiệp Quốc vinh danh (2) . Đó là việc lớn, c̣n
việc nhỏ, nói đến Nguyên Tánh và nói đến
thơ Kiều mà quên thi sĩ Thi Vũ th́ cũng không
ổn.
Ḷng quê Vơ Văn Ái đau lắm; vâng,
khốn khổ trăm bề. Năm 1985, thi sĩ kêu gào thống thiết: Mở
miệng ra chỉ nghe nói đến thanh danh các ông ấy
(Platon, Aristote, Rousseau . . . Kant, Nietzsche, Marx, Lenine, Staline,
Sartre, Heiđeger, Gasper ..... v.v). Chẳng khác ǵ học
giới trước kia, quất roi
xuống là Khổng tử viết, Mạnh Tử viết
... Cảnh huống này đưa tới phủ nhận:
Việt
F. Phật Giáo và
tư tưởng dân tộc Việt
Công đức của TT Thích Trí Siêu (Lê Mạnh Thát) là
vô lượng trong công cuộc sưu tầm lịch
sử Phật giáo VN qua các thời đại (3).Tập I
Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam (dày gần 900 trang
của trọn bộ 3 tập) được
Thượng Tọa giới thiệu như sau:
Phật giáo tuy là một hiện tượng văn hóa
nước ngoài truyền vào nước ta, đă
được nhân dân tiếp thu và
vận dụng vào đời sống dân tộc và đóng
một vai tṛ lịch sử nhất định trong công
cuộc dựng nước và giữ nước của
dân tộc ta. Cho nên nghiên cứu kịch
sử dân tộc không thể không nghiên cứu lịch
sử Phật giáo. Lịch sử Phật giáo Việt
Thật ra th́ dân tộc ta vốn có một nền
tảng văn hóa có thể nói là bẩm sinh có tính chất
đặc thù: dung hóa tất
cả mọi hiện tượng văn hóa nước
ngoài truyền vào nước ta. Những văn hóa ấy
ngoài Phật giáo, như Lăo giáo, Nho Giáo hay những tôn giáo
khác sau này đều được dân tộc Việt
đón tiếp với một tấm ḷng bao dung để có thể tiếp
thu và vận dụng được vào đời sống
hằng ngày. Thượng tọa Trí Siêu đă
làm một công tŕnh vô cùng quí báu để chứng minh
tại sao lịch sử Phật giáo lại trở thành
một bộ môn của lịch sử dân tộc.
Mục đích hạn chế của bài này không cho phép
theo rơi sự tiến triển lịch sử của
mọi sự dung hóa giữa tư tưởng dân tộc
Việt và Phật giáo hay sự dung hóa vĩ đại
với tất cả tôn giáo theo quan niệm Vạn Vật
Đồng Nhất Thể. Bài này chỉ cố gắng
tŕnh bày một cách khiêm tốn lư do tại sao tư
tưởng Phật giáo mới được truyền
vào th́ gắn bó ngay với tư tưởng dân tộc
Việt một cách quá dễ dàng như vậy. Tôi trực
nhận được điều này nhờ thi sĩ
Phạm Thiên Thư, một tu sĩ hoàn tục, tác giả
Kinh Ngọc (Kim Cang), Kinh Vàng (Pháp Cú, Kinh Ḷng (Tâm Kinh) v.v.
Chỉ có thi sĩ kiêm tu sĩ mới trực nhận
dễ dàng sự tương đồng của tinh
thần Phật Giáo và tinh thần dân tộc Việt trong
môi trường cộng nghiệp: Hai bên dung hóa hổ
tương cho nhau, và đây là một ứng cảm tâm linh
bất khả tư nghị. Chữ Tâm trong chú Bát Nhă Tâm
Kinh tức chử Tâm Hán tự (nửa vành trăng
khuyết ba sao giữa trời) cũng như chữ Hridaya
Phạn ngữ là trái tim (4) . Nhưng nông
dân Việt khác với tất cả mọi người
trên thế giới ở điểm này: chữ Tâm Bát Nhă
vẫn ở trong ḷng quê dân tộc. Năm ngàn
năm văn hiến là ở nơi đây.
G. Mở rộng
tấm ḷng
Hoà Thượng Thích Đức Nhuận (5) giúp sinh linh
rung động Kinh Ḷng, cảm ứng Tâm Công Nguyễn
Trải và trực nhận Ḷng Quê Nguyễn Du trong tác
phẩm Phật Học Tinh Hoa, Một Tổng Hợp
Đạo Lư (trang 30,31) như sau:
Cũng nên nói: Đạo Phật là đạo của
mọi người, của muôn loài, với giáo lư thực
tiển ba điều:
1- Mở rộng cơi ḷng ....
2- Đưa sinh linh
đến ánh sáng chân lư.
3- Xây dựng một
xă hội công b́nh và hạnh phúc.
MỞ
RỘNG CƠI L̉NG: Tất
cả hiện tượng trong vũ trụ đều có
mối tương quan mật thiết với nhau. Sở
dĩ có sự riêng biệt là do sự mê chấp của
từng cá thể, gọi theo danh từ
Phật học là “chấp Ngả”. Bằng vào “Vô Ngă Pháp”,
đạo Phật khuyên ta mở rộng hai tay
ôm vũ trụ vào ḷng, và đừng bao giờ con người
khép kín tâm tư lại. Hảy sẵn sàng đón lấy
nhân đạo và từ bi. Quên đi những cái “ta “ ích kỷ, nhỏ hẹp để
được yêu vũ trụ rộng lớn . . .
Ngộ nhận một cái “ta” riêng
biệt, tức là tạo một ung nhọt trong thân
thể vũ trụ.
Bởi nhận định như
vậy, nên việc khuyên người Mỡ rộng cơi ḷng
nhận toàn thể là ḿnh, đấy là công việc
trước tiên của đạo Phật.
Hoà Thượng dạy đúng. Phải mở rộng cỏi ḷng
mới có khả năng trí tuệ đưa sinh linh
đến ánh sáng chân lư và có dũng tính để xây
dựng một xă hội công b́nh và hạnh phúc. Và Ngài dạy đó là giáo lư thực tiển. Người nông dân Việt rất thực
tiển, họ dung hóa ngay, nuốt giáo lư đó vào ḷng,
thuộc ḷng.
Những
đại sư ngày xưa tu cao, học rộng,
đạo đức b́nh dân luôn luôn mỡ rộng tấm
ḷng nên được đồ chúng tôn kính.
Để chấm đứt bài này tôi xin tŕnh bày giai
thoại bao gồm 12 Nhân Duyên và Bát Nhă Tâm Kinh bằng 4 câu
thơ tứ tuyệt nôm na hài hước trong ḷng 1 trái quít
dân tộc Hương Cần, diễn đạt câu Ai
ăn nấy no, ai tu nấy chứng:
Số là các thiền sư dân tộc Việt
thường là thi sĩ nên Sư Viên Thành chùa Tra Am (tức
Công Tôn Hoài Trấp ḍng Định Viễn) và Sư Giác Tiên
chùa Trúc Lâm (xuất thân con nhà ḍng dơi, tinh thông nho học) là
bạn tu mà cũng là bạn thơ, thường bút
đàm với nhau bằng
thơ. Sau đây là bài tứ tuyệt viết trong giấy
hoa tiên được Sư Viên Thành cho đệ tử
chuyển sang Trúc Lâm với một trái quít Hương
Cần:
Ngọt ngào không rơ đặng trong ḷng,
Rơ đặng trong ḷng, biết đục trong,
Biết đục trong? hăy xin nếm
thử,
Hăy xin nếm thử, ngọt ngào không?
Đặc điểm của bài tứ tuyệt
Bất khả tư nghị làm theo thể ṿng tṛn: các
chữ cuối câu 1 trùng với các chữ đầu câu 2
và như thế, các chữ cuối câu 4 lại trùng với
các chữ đầu câu 1. Sư Viên Thành
muốn diễn tả trái quít tṛn như bài tứ tuyệt
lẩn quẩn luân hồi như kiếp chúng sanh.
Đặc điểm của phong
kiến dân tộc Việt là có trí tuệ trong bụng
dạ b́nh dân nên có khả năng lănh đạo mọi công
cuộc dựng nước và giữ nước. Do đó dân tộc Việt từ
cấp lănh đạo đến nông dân cùng nhau suy tôn
những bực tôn túc rộng cơi ḷng, lên làm quốc sư
cũng là việc dễ hiểu thôi.
Để chấm dứt bài này tôi xin tôi xin đê
đầu đảnh lễ nguyện cầu Chư Tôn Ḥa
Thượng, Chư Thượng Tọa trong Giáo Hội
PGVNTN Hải Ngoại tiếp tục mở rộng cơi ḷng theo tinh
thần Chúc thư ngày 15-11-91 của Ngài Đôn Hậu, Chánh
Thư Kư Xử Lư Viện Tăng Thống gởi Chư Tôn
Ḥa Thượng, Chư Thượng Tọa Trong Hội
Đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN:
Tôi tuy xa cách quư vị, và sẽ c̣n xa cách vô hạn
định (Ngài viên tịch ngày
– Nhân Loại và Chúng sinh.
Dân Tộc nơi Nguyễn Trải,
Lịch Sử Manh Động của Nho Giáo VN v.v.
CHI CHÚ:
(1) Ngài phản đối
việc thống nhất Phật giáo 2 miền thành Giáo
Hội Phật Giáo VN dưới sự chỉ đạo
và kiểm soát của nhà nước mặc dầu họ
gán phong cho Ngài làm Phó Pháp Chủ của Giáo Hội này và
viết văn thư ngày 14-7-1982 phản đối
việc bức tử GHPGVNTN bằng cách cho Giáo Hội
Phật Giáo VN đến chiếm trụ sở Văn Pḥng
Viện Hóa Đạo ở chùa Ấn Quang. Ngài yêu
cầu Tăng Ni Phật
Tử VN Hải Ngoại thống hợp thành lập Giáo
Hội VNTN Hải Ngoại bằng Tâm thư ngày 10.9/1991,
Thông Điệp ngày 31/10./991 và Chúc Thư ngày 15/11/1991. Ngày
20,
(2) Việc này làm cho Cộng sản Việt
(3) với những tác phẩm như Lịch Sử Phật Giáo
Việt Nam, Thiền Uyển Tập Anh, Khương
Tăng Hội Toàn Tập, Chân Nguyên Thiền Sư Toàn
Tập III, Thiên Am Ngữ Lục, An Thiền Thiền Sư
Toàn Tập, Lục Độ Tập Kinh và Lịch Sử
Khởi Nguyên Dân Tộc Ta, Nghiên Cứu về Mâu Tử,
Vấn Đề Thừa Kế Văn Hóa Dân Tộc nơi
Nguyễn Trải, Lịch Sử Manh Động của Nho
Giáo VN v.v. TT Trí siêu là một nhân vật lạ lùng thông
thạo cổ ngữ cũng như ngoại ngữ, có
nhiều bằng tiến sỹ tại Hoa Kỳ, Triết
Học, Thần Học, Toán Học và Y Khoa ... một trí
tuệ siêu phàm, một trong những cao tăng VN (Huyền
Quang, Quảng Độ Đức Nhuận, Tuệ sỹ
v.v.) xem việc bị cộng sản giam tù hàng chục
năm như không (bị Công An bắt ngày 23-3-84 cùng với
TT Thích Tuệ Sỹ và nhiều vị khác bắt bảy
ngày trước khi HT Trí Thủ bị công an đem xe
đến chùa bắt đi bệnh viện và bức
tử tại đó, TT trí Siêu được thả năm
1998.
(4) Ḥa Thượng Thanh Từ trong tập giảng Bát Nhă
Tâm Kinh đă lầm chử Tâm Hridaya Tâm Kinh là chữ Tâm
Citta Duy Thức. Ḥa Thượng cũng không dung hóa
được chữ Ḷng Tâm
Kinh nên cũng không dung hóa được Tịnh Độ
và Mật Tông trong diễn văn khai mạc chùa Trúc Lâm
Đàlat năm 1994: “Đến đường lối tu
trong các chùa Phật giáo Bắc Tông hiện nay, hầu
hết đều pha lẫn Tịnh Độ và Mật
Tông. Hai tông phái này lấy ḷng tin làm căn bản -tín
hạnh nguyện- lấy tha lực làm chổ nương
tựa - Cầu Phật rước về Cực Lạc -
V́ thế người Phật tử mất dần ḷng
tin”. Ḥa Thượng thắc mắc: “các Kinh Luận
hầu hết đều dạy tu thiền, tại sao
Sư Ông và Thầy tôi dạy tu Tịnh Độ?” (trích trong tác phẩm Ba Vấn Đề
Trọng Đại Trong Đời Tu Của Tôi). Việt
Cộng xây 8 Tu Viện để lợi dụng Ḥa
Thượng trong mưu đồ hủy diệt tinh
thần dung hóa của Phật Giáo Truyền Thống
Việt Nam (Thiền Tịnh song tu hay Thiền Tịnh
Mật tam Tu) kể từ khi Giáo Hội PGTN không chịu
quốc doanh hóa,
(5) Hoà Thượng Đức Nhuận nguyên Chánh
Thư Kư Viện Tăng Thống, tác giả Trao Cho Thời
Đại Một Nội Dung Phật Chất và Phật
Học Tinh Hoa, Một Tổng Hợp Đạo Lư bị
bắt giam tại khám Phan Đăng Lưu tháng 5 1985 v́ là
Cố Vấn cho Ủy Ban Bảo Vệ Phật Giáo và
Cứu Nguy Dân Tộc do TT Tuệ Sỹ và Trí Siêu lănh
đạo. Thầy Thích Nguyên Thể (hiện học ở
Tâm Tràng Ngô Trọng Anh