Thiền Học Việt
Giáo sư Nguyễn Đăng Thục
-I-
Một Cột Chùa xưa
tượng hoa Sen,
Thăng-Long hồ biếc
Bụt ngồI trên;
Sơn-hà
Độc-Lập tự-do
mộng “Hựu-Diên”
Ư-thức Quốc-gia “Dung
tam tế“
Tinh thần dân-tộc Phật
-Trời -Tiên.
Ngàn năm c̣n đấy
người thôn nữ, (2)
Nội-trị thay Vua, liễu
đạo Thiền.
Chú Thích:
(1) Lư-Thái-Tổ.
(2) Ỷ-Lan
Phu-nhân: hiệu là Linh-nhân Hoàng-Thái-Hậu. Khi làm Hoàng-Hậu
tức vợ vua Lư-Thánh-Tông, bà hạ sanh ra Lư-Nhân-Tông; Khi
Lư-Thánh-Tông đi đánh Chiêm-Thành, bà ở nhà nội-trị.
Nhân dân xưng bà là Quan-Âm-Nữ. Thưở đó nhân-dân
trong nước rất mộ đạo Phật. Bà có triệu
tập ở chùa Hội-Ninh, tỉnh Bắc-Ninh các danh
Tăng, Đại-Đức
đến để vấn đạo. Trong đó có
Thiền-sư Thông-Biện đă giải-đáp một cách
thông-thái những lời vấn đáp của bà. Bà tu đắc
đạo nên có để lại bài Kệ Thị-Tịch
như sau:
Sắc thị
Không, Không tức Sắc,
Không thị Sắc,
Sắc tức Không,
Sắc Không cầu
bất quán,
Phương đắc
khế chân tông.
-II-
Đạo Thiền liễu
ngộ Sắc ḥa Không,
Không Sắc dung thông nhất
thể đồng;
Vượt khỏi hai bờ,
ĺa bốn tướng, (3)
Nhập vào Biển Giác sáng
vô cùng;
Gần bùn thôn-nữ không
lùi tục;
Đài-các Vương-phi, Bụt
làm ḷng.
Từ-Mẫu xứng danh
Quan-Âm-Nữ,
Thảo-Đường
sáng-tỏ, Việt Thiền-tông (4)
Chú thích:
(3) Hai bờ:
Sống chết. Bốn tướng: Sinh Lăo Bệnh Tử.
Trong Truyện Quan-âm Thị-Kính có câu:
Sao bằng vui thú
liên tŕ,
Dứt không tứ-tướng
sá ǵ nhị-biên.
(4)
Thảo Đường do Lư-Thánh-Tông sáng lập, là một
ḍng Thiền thứ ba, có tinh thần dân tộc, khác với
hai ḍng trước của Tổ Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi
(Tổ Ấn), và Vô-Ngôn-Thông (Tổ Tàu).
-III-
Thảo-Đường
hợp sáng Mật với Thiền,
Thiền Mật bổ
xung lẽ đương nhiên,
Lư ngoại t́nh trong
nên trọn vẹn,
Giác-tha tự-giác lư
không thiên;
T́nh yêu mẫu-tử
t́nh non nước,
Trí-tuệ Thiền
siêu-việt nhị-nguyên;
Lư-Thánh Ỷ-Lan sinh
Hoàng-tử,
Nhân-Tông
Vương-đạo có tông truyền.
-IV-
Tông truyền nguồn-gốc
tự Tăng Khương, (5)
Thiền-tính Hoa-sen
mớI mở đường;
Cuống giễ
trong bùn hoa c̣n nụ,
Tâm hoa tịnh nở
ngát mùi hương;
Pháp-Hoa Tam-muội
Quan-Âm-Phật.
Dịch tại
Giao-Châu Chí-Cương-Lương. (6)
Tổ-Ấn, Tổ-Hoa
liên tiếp đến, (7)
Con đường
hợp sáng mở Viêm-bang. (8)
Chú
thích:
(5)
Khang-Tăng-Hội, thế kỷ thứ ba, người
Nguyệt-Thị, quy Phật năm lên 10 tuổi ở
đất Giao Chỉ, Bắc Ninh, chùa Pháp-Vân. Là một thiền
sư nổi tiếng đầu tiên về Thiền Hoa Sen
nói trong Kinh Lục-Bộ-Vô-Cực (Đại tạng
Qu.15).
(6)
Chí-Cương-Lương đồng thời với
Khương-Tăng-Hội là người đầu tiên dịch
kinh Phật.
(7)
Tổ-Ấn : Tổ T́-Ni-Đa-Lưu-Chi (thế kỷ thứ
6); Tổ-Hoa: Tổ Vô-Ngôn-Thông (thế kỷ thứ 9).
(8)
Viêm-Bang: cơi nhiệt đới, người Tàu gọi Việt
-V-
Viêm-bang rộng mở
cơi Nam-Ninh, (9)
Nam-quốc
sơn-hà dấu địa-linh
Ư-thức Quốc-gia
Nho-Đạo-Thích.
Tinh-thần dân-tộc
chí ḥa-b́nh,
Pḥ Vua dựng
nước, Sư Vạn-Hạnh. (10)
Thắng Tống,
b́nh Chiêm, Lư dụng binh, (11)
Quốc-học Việt-Nam
tam-giáo tỏ
“Cư trần lạc
đạo“ hợp lư t́nh. (12)
Chú
thích:
(9)
(10)
(11)
Lư Thường Kiệt.
(12)
Cư-Trần Lạc-Đạo tên một bài thơ của
Vua Trần-Nhân-Tông.
-VI-
Lư t́nh hợp nhất
nghĩa nhân-sinh,
Học quán Thiên-Nhân
mới đặng minh. (13)
Khổng Mạnh
vào đời, quên sống chết, (14)
Lăo Trang xuất- thế,
mộng trường-sinh.
Đạo Thiền
Bát-Nhă liễu sinh tử,
Xă-hội thiên-nhiên
nhất tâm-linh.
Văn-hóa Đ́nh,
Chùa thờ TrờI, Phật,
Chi-Na, Ấn-Độ
thế quân-b́nh. (15)
Chú
thích:
(13)
Thiên, Nhân, Phật.
(14)
Trong sách Luận-Ngữ Khổng-Tử có nói: Vị tri sinh
yên tri tử.
(15)
Vị-trí Việt Nam đứng giữa Trung-Hoa và Ấn-Độ
mới có tên Indo (Ấn-Độ) và
-VII-
Quân-b́nh Đại-Việt
giữa Đông-A, (16)
Quốc-Tuấn,
Thường-Kiệt anh-hùng nhất nước ta;
Đại phá Tống,
Nguyên tan đế-bá,
Nêu cao chính-nghĩa
vững sơn-hà;
Thảo-Đường
Thiền-Đạo Trần kế tiếp,
An-Tử non xanh khúc
đạo ca;
Trút bỏ ngai vàng
t́m đầu Phật,
Nhà Vua vào núi chí xuất-gia.
Chú
thích:
(16)
Cơi Đông-Nam-Á
-VIII-
Xuất-gia t́m Phật
nơi rừng-sâu,
Vắng-vẻ non
xanh có thấy đâu;
Phật ở trong
ḷng t́m đâu nữa, (17)
Vô-tâm đối cảnh
Phật ấy mầu.
Làm Vua giúp nước
tâm thiên-hạ;
Tế-thế
kinh-bang dục vô-cầu.
Tâm minh Trần-Thái
tâm vô-trụ;
Sách Khóa-Hư triết-lư
cực siêu. (18)
Chú
thích:
(17)
Trong bài tựa Thiền-Tông Chỉ-Nam (sách Khóa Hư Lục)
Quốc Sư Trúc-Lâm Yên-Tử có nói: “Sơn bản vô Phật,
Duy tôn hề tâm, Tâm tịch thị nhi, Thị danh chơn Phật”.
(18)
Sách Khóa Hư-Lục của Trần-Thái-Tông.
-IX-
Cao siêu đạo-lư
An-Tử-Sơn,
Thiền học
Trúc-Lâm, chủ sinh-tồn;
Tam giới duy-tâm,
đời tức đạo,
Tính tồn-tồn,
đạo “nghĩa chi môn”;
Tôi hiền sáng-tỏ
nền Quốc-học;
Chúa Thánh cao-minh chiếu
Quốc-hồn;
Một Cột Huyền-Quang
linh-cảm hứng, (19)
Tâm Thiền thực-hiện
Bất-Nhị-Môn
Chú
thích:
(19)
Ngài Thiền Sư Huyền Quang có làm bài thơ: “Vịnh
Chùa Một Cột“ diễn tả sự tiến-triển của
trạng thái Thiền.
-X-
Linh-cảm Huyền-Quang
vượt nhị-nguyên,
Tâm tâm vật khỏi
triền-miên
Hoa Sen Diên-Hựu hồ
thu lạnh;
Chí vẫn đảo
miên khách định Thiền,
Thế-giới thị-phi
tuồng ảo-hóa,
Thiên-đường
Địa-ngục hiếu sinh quan;
Từ-bi Hỷ-sả
Sư thực hiện,
Hợp-nhất
tri-hành, lư chẳng thiên.
-XI-
Không thiên, không vị
Thích-Đạo-Nho,
Nhất thể
“Đồng quy nhi thù đồ“.
Giao-Chỉ Lĩnh-
Chi-Na, Ấn-Độ
sớm hẹn ḥ;
Trống-Đồng
Cổ-Mộ c̣n di-tích,
Thần, Phật,
Đ́nh, Chùa truyền-thống xưa;
Núi Mắc Suối
Lê hồn vọng ngoại,
Ngàn năm văn-hiến
tủi Hai Bà.
-XII-
Phật-Trời cứu-cánh
mới vẹn-toàn,
Thể-dụng hỗ-tương
nghĩa sinh-tồn;
Đạo ở
trong Đời, Đời có Đạo,
Phật-mười
Trời-chín được vuông-tṛn;
Đời không có
Đạo, Đời vô-nghĩa
Đạo với
Đời như xác với hồn;
“Lạc Đạo
cư trần“ Nhân-miếu-Kệ,
“Vô tâm đối cảnh”
một ḷng son.
-XIII-
Ḷng son Nguyễn-Trăi
sáng sao khuê, (20-21-22)
Chúa Thánh triều Lê
ngự bút đề;
Nhân-nghĩa ḷng
thành động Trời Đất.
Bạo tàn quyền-bính
nỡ chu-di
“Cương thường
khôn biến tấc son thắm”, (23)
Sử sách ḷng
người đời nhớ ghi;
Mới biết
THÀNH là Thiên-Đạo vậy. (24)
Ḷng son Nguyễn-Trăi
chí Thành-chi.
Chú
thích:
(20)
Ức-Trai (Nguyễn-Trăi).
(21)
Bài thơ “Tức Cảnh” của Nguyễn-Trăi có câu:
Ngọ
song tiêu sái vô trần lụy,
Nhất
phiến nhàn tâm nhiếp Thái-Hư.
(22)
Trần-Thái-Tông có câu trong sách Khóa-Hư-Lục:
Vị
minh nhân vọng phân Tam-Giáo,
Liễu
đắc để đồng ngộ nhất tâm.
Nghĩa
là: Người chưa sáng tỏ lầm phân biệt ra
Tam-Giáo.
Thấu hiểu
căn-bản th́ cũng giác-ngộ có một Tâm.
(23)
Thơ Quốc-Âm Tự-Thánh 87 – XVII của Nguyễn-Trăi có câu:
Nhật
nguyệt dễ qua biên trắng,
Cương
thường khôn biến tấc son.
(24)
Sách Trung-Dung có câu:
Thành giả
chi đạo, Thành chi giả nhân chi đạo dă
Thành tắc
minh minh tắc thành.
-XIV-
Thành-chi Thiên-Đạo
chỉ là Thành
Thể-dụng không rời
t́nh với lư,
Trời-Người nhất-thể,
tính tự-minh;
Di-Đà tính sáng soi cho thấu,
(25)
Lăo-Tử như Rồng
biết tự-minh. (26)
Nguyễn-Trăi
“cương thườngḷng đỏ thắm”,
Ba thân lọn nghiệp”
cộng trời xanh. (27)
Chú
thích:
(25) Trần-Nhân-Tông
trong bài ca “Đắc thú lâm tuyền thành đạo“ có câu:
Tịnh-Độ
là ḷng trong sạch sao c̣n hỏi đến Tây-phương,
Di-Đà
là tính sáng soi, nực phải nhọc t́m về Cực-Lạc.
(26)
Sách Đạo-Đức-Kinh Lăo-Tử có câu:
Tri nhân
giả Trí, tự tri giả minh.
(27)
Thơ Quốc-Âm của Nguyễn-Trăi có câu:
Cơi phàm
tục khỏi ḷng phàm tục,
Học
Thánh-nhân chuyên thói Thánh-nhân,
Trung hiếu
cương thường ḷng đỏ,
Tự
nhiên lọn nghiệp ba thân.
-XV-
Ba nghiệp căn nguyên
tại ḷng người,
Ḷng son, ḷng Bụt, Nghiệp
không thôi;
Vô-tâm hành-động
không lành dữ,
Hữu-ư mong-cầu Nghiệp
thấy ngay;
Sinh-tử luân-hồi
ṿng nhân-quả.
Thiên-đường,
Địa-ngục, tấc ḷng soi;
Nguyễn-Trăi ngồi
thiền quên ăn nói,
Người và mây trắng
ai hơn ai? (28)
Chú
thích:
(28)
Thơ chữ Hán của Nguyễn-Trăi (57. Nguyễn-Trăi toàn
tập)
Nhật
trường ẩn kỷ vong ngôn xứ,
Nhân dữ
bạch vân thùy hữu tâm.
-XVI-
Bạch vân lưu thủy bản vô tâm, (29)
Tôn-chỉ Thiền An-Tử
Trúc-lâm;
Nước chẩy xuống
khe không cố-ư,
Mây bay khỏi động
bản vô tâm;
Vô-tâm chớ tưởng
rằng Đạo ấy,
Có-Không chưa tránh khỏi
mê lầm
Thiền-Đạo vô
tâm vượt Khổng-Lăo.
Duy tâm tuyệt-đối
Quán-Thế-Âm.
Chú thích:
(29) Trần-Thái-Tông trong sách Khóa-Hư-Lục:
Lưu thủy hạ sơn phi hữu ư,
Bạch vân xuất tụ bản vô tâm
Mạc vị vô tâm vân thị đạo,
Vô tâm do cách nhất trùng quan.
-XVII-
Quan-Âm Thế-Chí, A-Di-Đà,
Một tính chân-như hợp cả ba;
Tổng-hợp trí-bi nên Huệ-Giác,
Từ tâm vô-lượng độ Ta-Bà;
Chân-nguyên Lê-mạt chán khoa-cử,
Tới núi Long-Động
cầu xuất gia;
Thực hiện Thiền
Trúc-Lâm An-Tử;
C̣n truyền hậu thế
«truyện Phật Bà».
-XVIII-
Phật-Bà cho thấy ư
Chân-Nguyên,
Trở giáo quy-y Lư, Trần
truyền;
Xă hội tu tề Khổng-Phu-Tử,
Ḥa-hài Đạo-Thích với
thiên-nhiên.
Thần-thông biến-hóa
ngàn tay mắt,
Nam-Hải Quan-Âm trên cả
tiên;
Nhân quả phân minh không
bí-mật,
Tại tâm nhất-niệm
đủ tam thiên. (30)
Chú thích:
(30) Nhất
niệm tam thiên (tên chỉ Thiên-Thai)
Càn không tận
thị mao đầu thượng,
Nhật nguyệt
bao hàm giới tử trung.
(Thiền-Sư
Khánh-Hỷ đời Lư)
(Toute réalité
ensoi est réelle
Tout dans
L’Univers est comme L’Univers)
(«Le Monde est
petit» - Marcel Granet «La Pensée Chinoise)
-XIX-
Tam thiên nhất-niệm,
trên đầu lông, (30)
Niệm Phật tâm
thành chí tập-trung;
Nước Bụt
bước vào liễu sanh tử,
Quan-Âm cứu-độ
dễ thành công;
Qua đời rời bỏ
duy c̣n nghiệp;
« Niệm niệm
diệt chi», Trần-Thái-Tông, (31)
« Tịnh-độ
là ḷng trong sạch» vậy.
« Di-Đà tính
sáng»Ngài Giác-Hoàng.
Chú thích :
(31) Trần-Thái-Tông
viết trong Niệm-Phật-Luận (sách Khóa-Hư)
« Chú ư tinh
cầu niệm bất vong, tự tâm thuần thiện.
Thiện niệm
kư hiện ác niệm tiện tiêu, duy tâm thiện niệm.
Dĩ niệm
y niệm, niệm niệm diệt chi.
Niệm diệt
chi thời, tất quy chính đạo.
Mệnh chung
chi thời đắc Niết-Bàn lạc.
Thường
lạc ngă tịnh Phật chi đạo dă».
(32) Như
chú-thích số 5.
-XX-
Giác-HoàngĐiều-Ngự
Phật Thích-Ca,
Tam-Tổ Huyền-Quang
với Pháp-Loa;
Chúa Thánh tôi Hiền
Đời tức Đạo,
Lấy tâm thiên-hạ
trị sơn-hà. (33)
Phân tranh Trịnh Nguyễn
thời Nam-Bắc,
Hương-Hải
đường trong mới xuất-gia;
Từ bỏ ra đi
ngồi thiền-định,
Thần-thông đắc
quả trừ tà- ma.
Chú thích:
(33) Trần-Thái-Tông
viết trong « Thiền-Tông Chỉ-Nam Tự», sách Khóa
Hư-Lục:
«Dĩ thiên-hạ
tâm chi tâm, dĩ thiên-hạ dục vi dục».
nghĩa là: «Lấy
tâm nhân-dân làm tâm,
lấy ư muốn
của nhân-dân làm ư muốn»
-XXI-
Tà ma trừ sạch về
đất liền,
Chữa bệnh nhân-dân
Chúa ngợi khen;
Vượt biển một
bè ra đất Bắc,
Vua Lê vấn nạn, giải
môn Thiền;
«Nhạn liệng ngang
trời, bóng đáy nước,
Chim nào có ư bóng ḿnh in;
«Nước lạnh vô
t́nh đối với bóng», (34)
Vô tâm chủ khách vượt
đôi bên.
Chú thích:
(34) Nguyên
văn chữ Hán:
Nhạn quá
trường không, ảnh trầm hàn thủy.
Nhạn vô dĩ
tích chi ư, thủy vô lưu ảnh chi tâm.
(Hương-Hải
Thiền-Sư)
-XXII-
Vô-tâm chủ khách một
tâm-tông, (35)
Tâm đă không th́ vật
cũng không;
Hương-Hải t́m
trâu cầu học đạo, (36)
Vô-tâm học đạo
dễ thành công;
Nguyên-lai Tam-Giáo đồng-nhất-thể,
(57)
Vũ-trụ
Nhân-văn đạo Trung-dung;
Vô-ngă thiền-tâm,
tâm-thiên-địa,
Quy nguyên bản-thể
tâm đại-đồng.
Chú thích:
(35) thơ Quốc-Âm
Nguyễn-Trăi (Ngôn-Chí IV):
Thơ đới
tục hiềm câu đới tục,
Chủ vô tâm ấy
khách vô tâm.
(36) Thơ
nguyên văn chữ Hán của Hương-Hải Thiền-Sư:
Tàm ngưu tu
phỏng tích,
Học đạo
quư vô tâm,
Tích tại
ngưu hoàn tại,
Vô tâm đạo
dị tàm.
(37)
Hương-Hải thi:
Nguyên lai
Tam-Giáo đồng-nhất-thể,
Nhậm vận
hà tằng lư hữu thiên.
-XXIII-
Đại-đồng tâm
là ư-thức chung, (38)
Trời, Phật,
Người với chúng-sinh đồng;
Cá-thể khác nhau thông-cảm
ư,
Không h́nh chung sao khá cảm-thông ?
Tây-phương
(Einstein) thực-tại ngoài ư-thức,
Á-Đông (Tagore) Đạo-học
bảo rằng không,
Cá-tính ngủ say đều
vô-ngă,
Vẫn c̣n tồn-tại
ư-thức chung.
Chú thích:
(38) Conversation between R. Tagore and Prof. A.
Einstein at the residence of Kaputh.
July 14-1930 On The Nature of Eality. – (The Religion
of Man).
-XXIV-
Khoa-học Tây và Đạo-học Đông.
Phương-trâm tuy khác đối-tượng đồng;
Thành-tŕ vũ-trụ để khắc-phục,
Tây-học bao vây lấy ngoài ṿng;
Đạo-học chủ-trương đi vào thẳng,
Bắt giặc trước hết tiên cầm
Vương, (39)
Trí-thức phân Tri-Hành hai ngả;
Tâm-linh hợp-nhất và dung-thông.
Chú thích:
(39) Cầm tặc tiên cầm
vương (Vương-Dương-Minh)
-XXV-
Văn-hóa Tây lưỡng-tính nhị-nguyên,
Duy-tâm, duy-vật chống-đối liền.
Tri-hành, năng-sở chia đôi ngả;
Đối-lập nhân-văn với thiên-nhiên;
Truyền-thống Đông: Trời, Người nhất-thể;
Lấy ư t́nh thực hiện tham-thiên;
Hiền-triết Việt-Nam mộng sơn thủy,
(40)
Làm nguồn cảm-hứng cho nhân-văn.
Chú thích:
(40) Một
đoạn trong bài thơ Đăng-Hải Vân-Đài của cụ
Trần-Bích-San:
Thảo thụ
bán không đê nhật nguyệt,
Càn không trích
nhỡn tiểu trần ai.
Van phi sơn
thủy vô kỳ khí,
Nhân bất
phong sương vị lăo tài.
-XXVI-
Bách-Gia-Chu-Tử trọng
nhân-văn,
Chuyên-trị nhân sinh với
thiên-nhiên;
Sống chết
siêu-h́nh không giải-pháp;
Duy cầu hưởng-thụ
cơi nhân gian.
Thiền-gia Việt cầu
t́m giải-thoát;
Cho ḿnh, cho nước,
cho nhân-dân.
Biện-chứng
Chân-Không vượt mâu-thuẩn;
Đông, Tây tổng-hợp
vào thiên-nhân. (41)
(41) Đại trượng-phu, Thiên-nhân sư (Huệ
Năng).
-XXVII-
Đông, Tây chia sẻ một tâm-hồn,
Lư trí tâm t́nh muốn vẹn-toàn;
Hạnh-phúc sống c̣n họa t́nh lư.
Không người, Khoa-học cũng không c̣n.
Đông, Tây bổ túc là cần thiết,
Tâm, vật tương-tranh phải về nguồn;
Nguồn tại nơi tâm không chủ, khách,
Chủ vô-tâm khách cũng mất luôn. (42)
(42) Thơ Quốc-âm
của Nguyễn-Trăi:
Thơ
đới tục hiềm câu đới tục.
Chủ
vô tâm ấy khách vô tâm.
Trúc
thong hiên vắng trong khi ấy,
Nắng
mới sơn tăng làm bạn ngâm.
(Ngôn-Chí
IV)
-XXVIII-
Việt-Nam đứng giữa Á và Âu
Khu-vực Lĩnh-Nam cơi Giao-Châu;
Ấn-Độ, Chi-Na (Indochine) tên mới đặt;
Trống-Đồng Mộ-Cổ có từ lâu;
Kết-tinh thâu-hóa và sáng tạo;
Sứ-mệnh địa-văn đất
Giao-lưu.
Đă từng hợp sang nên Tam-giáo,
Tâm-linh Ấn với nhân-văn Tầu.
-XXIX-
Cận lai hấp thụ văn-minh Tây,
Tôn-giáo Da-Tô, triết La-Hy;
Khoa-học Duy-vật, các chủ-nghĩa,
Nhân-quyền, Dân-chủ cùng Mác-Lê;
Mỗi đàng đều có chỗ trường
đoản,
Tổng hợp sao cho đặng thích-nghi;
Biện-biệt trước phân-minh chủ khách,
Xin đừng vọng ngoại để cuồng-mê.
-XXX-
Mê say cuồng-tín bệnh vô-minh,
Phật dậy từ xưa Đạo Tâm-linh;
Có Giác mới hay đau khổ hết;
C̣n mê nhận giặc làm con ḿnh;
Dân
Lạc-Việt Trống-Đồng, thần thánh linh,
Chùa cổ Pháp-Vân thờ Trời, Phật,
Đầu tiên tổng-hợp vào tâm-linh.
(43) Trong bài “B́nh Ngô
Đại-Cáo“ của Nguyễn-Trăi:
“Duy ngă Đại-Việt
thực vi văn-hiến chi bang“.
-XXXI-
Đâu tiên Mâu-Tử tại Giao-Châu,
Sinh-trưởng ở trong các tư-trào;
Chư-Tử Bách-Gia phương Bắc xuống,
Lạt-Ma Phật-Giáo Tây Nam vào,
Tinh-thần tổng-hợp các giáo-lư,
Họ Mâu “Lư-hoặc-luận” cao sâu,
“Nhật-Nguyệt tịnh minh các-sở-chiếu“ (44)
Mỗi đàng riêng chiếu khác chi đâu.
(44) Sách Lư-Hoặc-Luận
của Mâu-Tử:
“Nhật nguyệt
tịnh minh các hữu sở chiếu”.
Trong sách này so-sánh
các tôn-giáo Nho, Đạo, Thích, Tiên-đạo v.v...theo
tín-ngưỡng đại-đồng ví như các v́ sao, mặt-trời,
mặt trăng đều sáng, mỗi đàng chiếu sáng
riêng của nó.
-XXXII-
Tinh-thần khai-phóng của họ Mâu,
Thích-ứng đại-đồng các tư-trào;
Sĩ Thái-thú “Nam-Giao học-tổ“;
Chủ-trương hợp-nhất các trào-lưu;
Ra ngoài các hệ giáo thực-hiện,
Thiền-học mở đường cho đời
sau;
T́-Ni “Sáng tự lai Nam-quốc”,
Kế đến Vô-Ngôn-Thông tổ Tầu.
-XXXIII-
T́-Ni(Vinitaruci) Thiền-học
biện-chứng Không,
Tuyệt-đối
Duy-tâm, Phật-tính đồng;
Phủ-định hết
H́nh-Danh-Sắc-Tướng (Nama rupa).
C̣n mê chấp ngă họ-tên
suông!
Pháp-Hiền đắc
pháp tập Thiền-định,
Ngồi tựa cành khô,
vật ngă vong;
Hổ báo chim muông thân-mật
đến,
Đạo cao cảm-hóa,
Bắc triều phong. (45)
(45) Lương-Vơ-Đế nghe danh ngài Pháp Hiền
ở Giao Châu đắc đạo, bèn sai sứ thần
đem xuống tặng Ngài 5 ḥm sớ để xây tháp ở
Giao-Châu và Nghệ-Tĩnh.
-XXXIV-
Nối pháp T́-Ni Vạn-Hạnh
Thiền,
Tinh thần Quốc-học
khởi đầu tiên;
Dung-thông Tam-tế
sinh-sinh hoá; (46)
Phá chấp Bách-môn nhậm
tự-nhiên;
Con đẻ tinh-thần
Lư-Thái-Tổ.
Quốc-gia độc-lập
chí lâu bền,
Cổ-Pháp
quê-hương đất Phật-Tích,
Tinh-hoa nước Việt
hiện-sinh-thiền.
(46) Lời Vua Lư-Nhân-Tông truy tán Vạn-Hạnh
Thiền-Sư :
Vạn-Hạnh dung tam-tế,
Chân phù cổ sấm ky
(cơ.
Hương quan danh Cổ-Pháp
Trụ tích trấn
Vương kỳ.
-XXXV-
Hiện-sinh
Thiền-học phái Thảo-Đường,
Dung-ḥa
Thiện, Tịnh lư t́nh-thương;
Nhân-duyên
thôn-nữ cùng thiên-tử,
Giấc
mộng Quan-Âm Phật hiển dương;
Một Cột Hoa Sen Chùa hiện đó,
Không hai biện-pháp vượt đôi đường;
Nhân-Từ chính-sách nhất triều Lư,
Oanh-liệt danh vang
-XXXVI-
Lư triều thịnh-hành Thiền Mật-tông,
Thời-kỳ mạt-pháp dùng thần thông,
Thiền-Sư Giác-Hải tâm như hải, (47)
Đạo-sĩ Thông-Huyền phép cực thông,
Thoát xác đầu-thai Từ-Đạo-Hạnh.
Phi hành rút đất Nguyễn-Minh-Không.
Rằng không rằng Có như trăng nước,
“Nguyệt chiếu vạn suyên” ấy Thiền-tông. (48)
(47) Tăng Giác-Hải
và Thông-Huyền:
Giác-Hải tâm
như hải,
Thông-Huyền đạo
hựu huyền
Thân thông kiêm biến
hóa.
Nhất Phật nhất
Thần Tiên.
(48) Khẩu đầu
của Thiền-Tông:
Nguyệt chiếu
vạn xuyên ngụ ư Đồng quy nhi thù đồ.
-XXXVII-
Kiền khôn tận thị mao đầu thượng,
Nhật nguyệt bao-hàm giới tử trung, (49)
Hạt cải bao-hàm bầu nhật nguyệt,
Kiền-khôn hết thảy trên đầu lông;
Thực-tại tối-cao nhiều mà một,
To-cùng nhỏ-cực, bản-thể đồng; (50)
Nhà Vua bên Phật, bên Tiên đạo,
Giáo-lư sai nhau tương bổ sung.
(49) Tăng-thống
Khánh-Hỷ triều Lư có bài thơ khuyên người t́m
đạo:
Đương sinh
hưu vấn sắc kiêm không.
Học đạo
vô qua phỏng tổ tông,
Thiên ngoại mịch
tâm nan định thể,
Nhân gian thực quế
khởi thành tùng.
Càn không tận thị
mao đầu thượng,
Nhật nguyệt
bao hàm giới tử trung,
Đại dụng
hiện tiền quyền tại thủ,
Thùy tri phàm thánh dữ
Tây Đông.
(50) Ngài Từ-Đạo-Hạnh
có bài kệ:
Trước hữu sa trần hữu,
Vi không vạn pháp không.
Hữu không như thủy nguyệt,
Vật trước thị không không.
Cửu-Chỉ Thiền-sư viết:
Khổng Mặc chấp hữu, Trang Lăo
nhược vô.