Tháng Tư, thật chết với quê
hương
Phan Nhật Nam
Hóa ra cảm giác nhạt nhạt nơi
miệng, buồn buồn đè nặng, đau đau ở
trũng ngực làm đứa nhỏ có thói quen luôn rờ
tay lên ngực áo như muốn gỡ đi một khối
nặng vô h́nh dính sâu đâu trong người, mà sau nầy
khi khôn lớn, nó mới biết đó là vị trí gần
quả tim, chặn ngang đường thở. Tâm cảnh
nầy vốn có từ rất lâu - Cảm giác thời
thơ ấu c̣n nhỏ dại nó chưa biết gọi nên
tên.
Hoặc, buổi thanh xuân, đang ở tuổi
hai-mươi nơi trường Đà Lạt, đầu những
năm 60. Hằng đêm, khi bóng tối ch́m rét lạnh phủ
kín dầy khu rừng phía sân bắn, đối diện
Vũ Đ́nh Trường, anh khắc khoải nh́n ra hướng
vườn Bích Câu nơi xa, đường ṿng Hồ Xuân
Hương chập chờn giàn đèn màu tím đẫm lẫn
trong mù sương. Anh lần t́m thấy, hiểu ra: Sẽ
chỉ c̣n một ḿnh với Nỗi Buồn, về một
điều Không Thật. Nhưng quả t́nh anh cũng
chưa biết từ đâu? Là ǵ? Tại sao?
Sau những năm kể trên, ra đơn vị, lần chịu
phạt quân kỷ đầu tiên tháng 8, năm 1964 ở Bộ
Tổng Tham Mưu, đường Vơ Tánh, Gia Định. Pḥng
giam mờ đục, ngột ngạt, suốt ngày nằm
dán xuống chiếc giường sắt lót nệm rơm
cũ ẩm, khô khan, anh nghe sự sống bên ngoài qua tiếng
mưa chợt ào đến, vụt tắt dưới mái
hàng hiên - Mưa Miền Nam - Mưa mùa Hè thất thanh, vùng vẫy.
Và anh thấy trước sẽ có một mất mát rất
lớn ắt phải xẩy ra - Cái Đau của Sự Chết
- Hiện thực với khoảng tối của pḥng giam tầng
tầng chụp xuống, anh há miệng ra như đang bị
bóp cổ, mắt ráo hoảnh trừng trừng nh́n lên đỉnh
chiếc mùng nhà binh - tấm vải trắng nhờ nhờ
như như nắp quan tài.. bay lên cao.. cao.. cao nơi xa dật dờ như một giải
khăn tang..
Nhưng không hẳn chỉ là thế, sâu xa hơn những
ám ảnh tuổi thơ, phiền bực tuổi trẻ
c̣n có điều ǵ khác, lớn lao, kinh hoàng, khốc liệt
hơn.. Cảm giác gần kề, rờn
rợn, dẫu tính đến nay (tháng Tư, 1975) đă gần
hết một thập niên. Năm 1965, sau trận chiến
bùng nổ ngày 11 tháng 6, với mưa Miền Nam, nơi
Nghĩa Trang Quân Đội G̣ Vấp. Mưa không đủ lớn,
không dài lâu để cho người có cảm giác được
tẩy rửa, cuốn trôi. Mưa âm âm, ngột ngạt làm
bốc dầy thêm mùi xác chết của những đơn
vị, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 7, Sư đoàn 5 Bộ
Binh; của Biệt Động Quân, Tiểu đoàn 52; và
đơn vị đầu đời, thiết thân,
thương mến, Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù với những
người lính anh quen mặt từ buổi trưa cuối
năm 1963 mang chiếc xắc marin nhà binh bước qua cổng
doanh trại, vào tŕnh diện tiểu đoàn trưởng.. Những người lính với sức chịu
đựng dường như vô hạn dưới khối
nặng của thùng đạn, ba-lô, nón
sắc, vũ khí họ mang trên vai, vác lên lưng, để
từng ngày cúi gầm mặt bước xuống vùng śnh lầy
mênh mông, trèo lên dốc đá núi thăm thẳm, lội xuyên
rừng rậm ngút ngàn không tiếng nhỏ than van, gh́m lại
hơi thở dài nặng nhọc... Nay tất cả những
người gần gũi thân mến nầy đă là những
xác chết căng cứng, da tím sẫm bốc mùi xanh xao
tanh tưởi; khuôn mặt, dạng người tinh anh
tươi trẻ của tuần, tháng trước biến
dạng thành những khối thịt ủng lầy máu,
đất đỏ, nhầy nhụa thêm bởi thấm
mưa của bao ngày nằm nơi chỗ đụng trận,
một chốn gọi là xă Đồng Xoài, quận Đôn Luân, tỉnh
B́nh Dương, xa Sài G̣n khoảng năm -mươi cây số
đường chim bay.
Rồi từ Giao Thừa Mậu Thân, bắt đầu ở
Huế, ngơ Âm Hồn, lối đi ra đường Mai
Thúc Loan, hướng Cửa Đông Ba. Khoảng đường
u thẫm chập dầy bóng đen đêm Xuân 1968, với
t́nh thế nguy biến tang thương hơn qua hoạt cảnh
người lính xao xác chạy dọc những khu nhà đổ
nát, vừa chạy tránh đạn, vừa kéo xác đồng
đội.. Anh đi ngang qua căn nhà có
xác người đàn bà chết trong vị thế quỳ
trước chiếc bàn thờ xiêu đổ tung tóe, hẳn
đang khấn lạy, cầu xin, nhưng chỉ c̣n thân
người, bởi chiếc đầu đă bị cắt
ĺa, vất tung đâu đó. Bên cạnh, thây cô gái tóc dài lây lất,
khuôn mặt chỉ c̣n những tảng thịt rời ră.. Nhận biết đấy là người
thiếu nữ do chiếc áo dài trắng và áo len màu tím than,
màu riêng biệt đặc trưng của người thiếu
nữ xứ Huế. Nhưng, như một an ủi khốn
cùng, ở Huế, hay quanh ngoại ô Sài G̣n, vùng Nhị B́nh,
Thạch Lộc, Hốc Môn, Gia Định trong dịp chiến
loạn Mậu Thân 1968, người ta vẫn c̣n khả
năng phân biệt đấy là xác chết của lính hay của
dân; của dân chúng Huế hay gă bộ đội Sinh Bắc-Tử
Nam, hoặc cán binh Mặt trận giải phóng.. qua áo quần, dạng tướng, đôi
dép Nhật làm ở Chợ Lớn, giày botte de saut, hay loại
dép râu mang theo từ Miền Bắc. Nơi cù lao sông Sài G̣n
chảy qua B́nh Phước, B́nh Triệu, Thạnh Lộc,
Nhị B́nh, G̣ Vấp.. Cả một vùng hoa mai tàn tạ
trong ánh nắng rung rinh mùi tử khí.
Nhưng đến năm 1972, cảnh chết trên quê
hương miền Nam tăng vụt cường độ;
bất hạnh, tang thương nhân lên bội phần cho
dù trí tưởng tượng về t́nh cảnh khốn
cùng từ lâu đă được người Việt hằng
mang nặng, chuẩn bị chịu đựng. Trên chín cây
số từ La Vang, nam Quảng Trị đến Cầu
Trường Phước lớp nhựa đường
đă hoàn toàn chảy nhăo, đun nóng sôi bởi một thứ
lửa nhân tạo. Lửa được cháy lên do từ
áo quần, tay nải, bao bị, gồng gánh, và tế bào thịt
da của người tẩm vào lưỡi lửa của
xe cộ, xăng nhớt, biến thái nên ngọn lửa bền
bỉ âm ỉ. Trên quăng đường chín cây số nam Thị
Xă Quảng Trị mà báo chí Miền Nam đặt nên tên
đau thương Đại Lộ Kinh Hoàng hoàn toàn không c̣n dạng
thây ma để được gọi nên là xác chết, mà
chỉ là những mảnh xương cốt rời ră,
lăn lóc, lẫn lộn đất, đá, cát vương
văi dưới gầm khung xe cháy nám, nơi ổ súng cong
queo, sau những bụi lùm trơ trọi, những g̣, đụn
oan khiên mà ổ mối đùn lên gây gây tanh mùi máu.
Hoặc ở An Lộc, vào thời điểm đầu
mùa Hè, 1972 nơi Bệnh viện Tiểu Khu B́nh Long cũng
xẩy ra t́nh cảnh kinh hoàng đau thương
tương tự. V́ pháo binh cộng sản yểm trợ
cho các Công trường (sư đoàn) 5, 7 bộ binh đă học
được một kinh nghiệm hữu dụng: Ban ngày pháo kích xuống nhiều điểm bên trong thị
xă để dân chúng tin rằng, bộ đội
giải phóng không pháo kích vô chỗ bệnh viện! Nên Trường Trung Học Cộng Đồng, Bệnh
Viện Tiểu Khu.. nơi lớp lớp
người bị thương đang lê lết trong băi
máu, giữa những người hấp hối để
cầu sống sót, cầu được lúc b́nh yên - cho dẫu
b́nh yên được chết- biến thành những điểm
pháo tập trung với tám ngàn quả đạn 130 ly
rơi xuống chỉ trong một đêm 10 tháng Tư xé
toang đám xác người (người sống lẫn kẻ
chết), ném tung lên dăm lần, ba lượt (hoặc rất
nhiều lần) để thân thể con người chỉ
c̣n là những mảnh vụn tơi tả lẫn với bụi,
khói, mănh thép.. Trận Đồng Xoài năm xưa trên vùng đất
nầy đă trở nên là cảnh tượng nhỏ nhoi,
bởi ở Đồng Xoài năm 1965 chỉ với những
người lính tác chiến gục ngă do đạn súng tay.
Thây xác họ may mắn c̣n nguyên vẹn h́nh hài.
Với những t́nh cảnh sống-chết đan kín, xen kẽ
cùng nhau trong suốt chặng đường dài từ ngày
ra đơn vị, nên đă rất nhiều lần, bất
chợt anh nghe ra tiếng gọi oán hờn từ Nghĩa
Trang Quân Đội.. tự
trong thân âm động thảm thiết vang dội cơn gầm
gh́m kinh hoàng của lần phải sống
đau đớn khó khăn hơn được ngă chết.
Tất Cả Hiện Đủ
Trong Buổi Sáng Hôm Nay
Sự Chết bắt đầu trùm chiếc cánh tối
tăm hung hiểm lúc 6 giờ 15 chiều ngày 28 tháng 4, khi
chuỗi bom dưới cánh những chiếc A37 do viên phi
công phản trắc Nguyễn Thành Trung hướng dẫn
rơi nhanh xuống phi đạo Tân Sơn Nhất. Đạn
pḥng không bắn lên, phi cơ F5 đuổi theo muộn màng,
vô vọng. Cửa ngỏ tháo chạy của Sài G̣n đóng
sập lại. Cuối cùng, Tân Sơn Nhất thật sự
vùng vẫy, hấp hối, ch́m dần trong lửa hỏa
ngục khi dàn đại pháo, hỏa tiễn cộng sản
từ Đồng Dù, Củ Chi, ranh giới Hậu Nghĩa, Gia
Định bắt đầu đỗ xuống không ngắt
nhịp.. Từng trái đạn 130 ly, từng hỏa tiễn
122 ly chính xác rơi xuống.. Tân Sơn
Nhất vật vă, co quắp, ră chết, sụp vỡ, hấp
hối trong khói đen, lửa ngọn..
Cuộc hành h́nh kéo dài từ 4 giờ sáng ngày 29 tiếp tục
đến rạng đông. Ở căn cứ DAO (Văn
pḥng Tùy Viên Quân Lực Mỹ), ba ngàn người tỵ nạn
chờ đợi di tản bằng C130, hoặc C141 qua Guam
đưa mắt nh́n lên trời, giữa vũng lửa,
đếm rơ từng viên đạn pháo rơi xuống.. đống hành lư khổng lồ gồm quư
kim, vàng, kim cương, giấy bạc Năm Trăm Trần
Hưng Đạo của Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam; giấy
bạc đô-la của ngân khố Mỹ.. tất
cả cùng trộn lẫn với thịt da thân thể
người thành một thứ pháo bông tan tác bay tung tóe, hiện
thực cảnh địa ngục vô vàn của Dante nơi
trần thế.
Những viên tướng đă ra đi, những sĩ quan
cấp tá cũng rời bỏ nhiệm sở, đơn vị,
nhưng, Trung Úy Phi Công Nguyễn Văn Thành c̣n lại. Thành
(có biệt hiệu Thành mọi bởi
nước da ngâm đen quá độ) ra chỗ đậu
tàu, anh nỗ máy chiếc C119 Hỏa Long, đơn độc
bay lên trời xanh bảo vệ, cứu viện Tân Sơn
Nhất. Từ trên cao, thấy rơ những vị trí pháo của
binh đội cộng sản.. Thành
nghiêng cánh, chúc mũi chiếc Hỏa Long căm phẫn trút
xuống tràng đạn 7.62 ly, và tất cả hỏa lực
cơ hữu của hai khẩu đại bác 20 ly gắn
dưới cánh.. Lửa nháng lên dưới
thân tàu, toán pḥng không cộng sản phản pháo, nhưng
không kịp, Thành b́nh tĩnh, tài giỏi lách ra khỏi vùng hỏa
tập lưới đạn của giặc. Anh đáp xuống
lại phi đạo thân yêu quen thuộc đang bốc khói
mù bởi cuộc giội bom chiều hôm, và cuộc pháo kích
cường tập từ sau nửa đêm về sáng của
ngày đau thương tang tóc nầy. Mặc, Thành tự
tay nạp đạn vào tàu, trở lại bầu trời
trên phi cảng Tân Sơn Nhất - Cửa ngỏ của Miền
Nam. Anh nh́n xuống những vị trí pháo cộng sản mà
giờ nầy tạm ngưng hoạt động v́ vừa
bị anh tấn công.. Hóa ra cả một
quốc gia chỉ c̣n được lần cứu viện
bi hùng tuyệt vọng nầy. Thành chúc mũi tàu, bấm chặt
hệ thống kích hỏa bên cạnh chỗ ngồi, một
ḿnh anh lấy đường nhắm..
Một ḿnh anh.. Phải chỉ một
ḿnh anh - Trung úy Nguyễn Văn Thành, Thành Mọi
- Thành Thiếu Sinh Quân. Thành hạ thấp hơn để
đường đạn thêm phần chính xác. Thân tàu rung mạnh.. Lửa! Lửa! Lửa cháy ngang cánh trái con
tàu, ngay b́nh xăng, sát cạnh ghế ngồi..
Thành giật mạnh chốt thoát hiểm để bung thân
ra khỏi con tàu. Tất cả kẹt cứng. Anh dùng tay
đẩy cửa buồng lái phóng ḿnh ra, chiếc dù bung mạnh.. Các múi, giây dù vướng vít rối rắm.
Thành bị giữ chặt bởi chiếc dù và khung cửa.
Lửa bừng bừng! Lửa ào ạt..
Người phi công ch́m trong lửa, gục ngất giữa
không gian..
Sáng 30 tháng 4, năm 1975. Anh lục túi lấy hết giấy
tờ: Chứng Chỉ Tại Ngũ, Thẻ Lănh
Lương, Thẻ Báo Chí, Chứng Minh Thư mang Danh số
41 Ban Liên Hợp Quân Sự Trung Ương... ném
tất cả xuống miệng cống trước trước
nhà sách Khai Trí, đường Lê Lợi.. Coi như ḿnh đă
chết... H́nh như anh vừa nói ra lời. Có cảm giác
thanh thản của người vừa cất xong gánh nặng
quá lớn. Vất bỏ cùng lần với đời sống
chính ḿnh. Tay giữ chặt hai chiếc máy ảnh trước
ngực.. Ít ra ḿnh c̣n có vật dụng
để thực hiện một công việc, làm một
nhiệm vụ. Đây là những h́nh ảnh không thể thiếu
cho mai sau. Để tương lai c̣n có người biết
đến, hiểu ra. Với nhắc nhở, nâng đỡ.
ứng phó, giải thích tội nghiệp,
thảm hại nầy, anh đi về phía Công Trường
Lam Sơn, trước trụ sở Hạ Viện. Chung
quanh Sài G̣n vắng hoe. Trời bỗng nhiên trở mưa.. Cơn mưa ngắn, từng giọt khô nồng,
u uất.
Chiếc xe Molotova Trung Cộng (sau khi đi tù mới biết
đấy là xe Zil) từ hướng đường Trần
Hưng Đạo, chạy chậm răi qua bùng binh chợ Bến
Thành, những người đi đường nh́n lên, ngó
mông trống trải. Xe tới trước thềm Hạ
Viện, đám thiếu nữ nhẩy xuống, một anh
đội mũ tai bèo, chắc là người chỉ huy
trung đội lính phụ nữ, từ ca-bin xe bước
ra, chỉ trỏ, ban lệnh, kéo từng người vào vị
trí chiến đấu... các đồng chí, các đồng chí... bố trí
đây ń, sẵn sàng tác chiến... Giọng người
vùng miền Bắc Trung Việt cấm cẳng, the thé. Những
thiếu nữ ngồi bất động nghiêm trọng. Tất
cả đều mặc áo quần mới, áo mầu xanh
dương, quần đen, vải nội hóa c̣n nguyên dấu
hồ, dây đạn đeo chéo qua thân, miết xuống những
thớ thịt ở ngực, phần bụng. Đạn
cũng mới tinh, đỏ au. Cơ thể cô gái phụ
xạ thủ như muốn nức toang do chiếc áo quá chật
bó thắt vào khối thịt căng phồng. Đôi mắt nhỏ
nhắm hờ, một lằn chỉ khép kín để khỏi
nh́n thấy ống kính, cô ta ngồi im, cánh mũi phập
phồng, mồi hôi ứa đẫm trên lớp da mặt
đỏ nâu lốm đốm dấu mụn. Từ góc
nhà hàng Givral, Công Trường Lam Sơn, đầu
đường Nguyễn Huệ, đám đông dần tập
trung để xem mặt bộ đội
Việt cộng. Thêm hai xe đổ quân trước rạp
Rex. Lính nhẩy xuống, chạy vội vào hàng hiên, nằm,
trườn, ḅ, nháo nhác. Từ Hạ Viện, anh đi
băng qua hành lang Eden.
Tiếng đập đục rầm rập từ những
cơ sở ngoại quốc, những khối cửa sắt
lay động, phá bung, những tấm kiếng tủ lớn
bị đập vỡ, đồ đạt kéo lê hỗn
độn, vội vàng trên mặt đường. Người
mỗi lúc mỗi đông. Người dồn dập ùn ùn,
la ó, chưởi thề, giành giựt. Đám đông chạy về
phía Building Brink, khu Đồn Đất, nhà thương Grall, những
nơi có cơ sở của Mỹ kiều, những
văn pḥng mà chủ nhân đă bỏ đi. Bất chợt,
tất cả lắng lại để nghe rất rơ... Có
người tự tử. Có người mới bắn chết.
Ai? Lính, không biết, chỉ thấy mặc đồ lính
ḿnh. Ở đâu? Ở ngoải, chỗ tượng Thủy
quân lục chiến.. Lời trao đổi
đứt khúc, vội vă, mất hút giữa những tiếng
thở dồn dập, bước chân cuống cuồng nôn
nóng của đám đông đang hăm hở tiến tới
những kho hàng, cơ sở đầy ắp vật dụng
quí giá, thức ăn đắt tiền. Anh cũng nhập
vào đám đông xô đẩy đó trong giờ phút vỡ
toang mối nối thời - không với những động
tác, việc làm bất định, bất ngờ, vô
nghĩa, vô ích. Anh kiểm soát lại số phim đang c̣n
trong máy, trong túi, đi băng qua lối ngang trong
thương xá, ra ngơ quán Thanh Vị, quẹo phải, men
theo hàng hiên tiệm kem Đô Chính. Súng nổ..
Súng Aka và những bóng người chạy lúp xúp vào cổng
Ṭa Đô Chính. Anh tiếp tục làm nhiệm vụ, đưa máy h́nh lên.. Động tác
quen thuộc, thuần thục từ bao năm, anh và các bạn,
những phóng viên chiến trường của báo chí miền
Nam hằng thực hiện nơi những chốn sự
chết, lửa đạn vây bủa. Đồng một lúc
anh chợt nhói đau - Đây là lần cuối cùng. Đây là giờ
cuối cùng. H́nh như một nhân vật trong Doctor Zhivago
cũng đă kêu lên như thế. Anh chỉ nhớ loáng
thoáng bởi đang có cảm giác người cạn ly
rượu hành quyết trước khi bịt mắt, dẫn
đi. Anh chạy theo đám lính cộng sản với hai
thanh niên cầm cờ đỏ. Thật ra chỉ là một
mẫu vải màu đỏ. Loại hàng may áo dài.
Thoáng rất ngắn, anh ngừng lại, liếc về
phía khối tượng đài Thủy Quân Lục Chiến,
nơi có Người Lính vừa chết. Anh cúi gập
người, nôn khan. Buổi Sáng 30 tháng Tư, 1975. Chen giữa
âm sắc xích xe tăng đổ nhào cửa Dinh Độc Lập
có tiếng nổ khô nhỏ của viên đạn ghim vào, nằm
sâu trong đầu Trung Tá Cảnh Sát Quốc Gia Nguyễn
Văn Long.
Anh lên yên, nhấn mạnh bàn đạp,
động tác bàn chân quay ṿng không chủ đích. Xe đi dọc
đường Lê Văn Duyệt, qua Chợ Đũi, nơi
các bạn anh hôm qua (nay đă trở thành xưa cũ) hằng
vui vầy, sống động.. Định
rẽ vào Yên Đỗ về Phú Nhuận, nhưng không hiểu
từ đâu thúc giục, anh đạp dài theo Lê Văn Duyệt
giữa ḍng âm động dồn dập của Sài G̣n
đang hồi tẩm liệm với nhịp chày vồ dộng
mạnh xuống trăm, ngàn quan tài. Mà quả thật có nhiều
quan tài của những người vừa chết.. Đến trước cổng trại Nguyễn
Trung Hiếu, hậu cứ Tiểu Đoàn 1 Dù, anh hỏi Hạnh,
Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 2: Bây giờ bạn tính sao? Tṛng mắt
bạn khô khan ráo hoảnh sau bao ngày đêm không ngủ. Hạnh
nói dứt khoát, dẫu mệt nhọc, rời ră: Tôi c̣n đến 500 người lính; tất cả
các đại đội trưởng đang đợi lệnh
tôi, anh xem tôi có thể làm ǵ, đi đâu?! Có một xác con trẻ trần
truồng không biết ai vất ra từ bao giờ.. Cô gái áo trắng nữ sinh đi đến,
gác chiếc xe đạp mini cạnh lề đường,
b́nh thản, thành thạo đưa máy ảnh lên, lấy
góc cạnh thây đứa trẻ chết. Cháu chụp tấm
h́nh nầy làm ǵ?Anh không dám nh́n đến
thây đứa trẻ mà giờ nầy đă miết xuống
mặt nhựa đường do đám người chạy
loạn giẫm lên. Để làm chứng tội ác Mỹ-Ngụy
trước khi bọn chúng rẫy chết! Giọng cô gái
đanh lại, mắt quắt lên sau lớp kính trắng.
Anh thoáng kinh hăi v́ chứng kiến một điều ghê rợn:
Hóa ra Sự Ác có thể chụp xuống
ḷng người mau chóng đến thế sao? Bấy giờ, chỉ mấy
mươi phút sau lệnh đầu hàng của
Dương Văn Minh. Có trung đội lính Dù (thật sự
chỉ khoảng hơn một tiểu đội) giữ
nhiệm vụ an ninh cư xá đặt dưới quyền
chỉ huy của Chuẩn Tướng Hồ Trung Hậu
(Tư lệnh phó Sư đoàn Dù trước 1972). Chuẩn
Tướng Hậu đang trải chiếc bản đồ
trên mui xe jeep, bàn tính với những viên sĩ quan. Khi biết
lệnh đầu hàng đă thi hành, ông vất tung chiếc
bản đồ, gầm lên... Đ... m... đồ
chó đẻ! Anh nói với viên thiếu úy trung đội
trưởng: Anh vừa gặp ông Hạnh ngoài cổng tiểu
đoàn 1. Ông Hạnh không có ư kiến, bảo anh em ai về nhà nấy. Viên thiếu úy quyết
liệt: Em không đầu hàng, em với trung
đội sẽ ra bến tàu.. Thái, Thiếu
úy Huỳnh Văn Thái tập họp trung đội, hô
nghiêm, xếp hàng, ra lệnh di chuyển..
Trung đội lính ra khỏi cư xá theo lối cổng
Đường Tô Hiến Thành, rẽ vào Nguyễn Tri
Phương, đi về phía chợ Cá Trần Quốc Toản,
hướng bến tàu. Nhưng những Người Lính Nhẩy
Dù của Thiếu Úy Huỳnh Văn Thái không ra đến bến
Bạch Đằng, tới đến bùng binh Ngă Sáu Chợ Lớn,
họ xếp thành ṿng tṛn, đưa súng lên trời đồng
hô lớn.. Việt Nam Cộng Ḥa Muôn Năm..
Con chết đây cha ơi! Và những trái lựu đạn
tiếp nhau bừng bực nỗ sau lời hô vĩnh quyết
cùng đất nước Miền Nam.
Sau nầy, anh biết thêm, trên con đường anh vừa
đi qua, đường Bắc Hải, ngơ nhỏ băng
ra Chợ Ông Tạ, trong một căn nhà đă diễn nên
hoạt cảnh uy nghi bi tráng của cả một gia
đ́nh quyết tử cùng vận nước. Thiếu Tá Đặng
Sĩ Vĩnh (em của Bà Hà Thượng Nhân, Trung Tá Phạm
Xuân Ninh, niên trưởng của giới báo chí quân đội
Miền Nam) Khóa 1 Nam Định là sĩ quan của ngành t́nh báo
đặc biệt, biệt phái ngoại ngạch qua ngành viễn
thông, phụ trách đường dây quốc ngoại.
Người con trai lớn của gia đ́nh, Trung Úy Đặng
Trần Vinh sĩ quan Pḥng 2 Bộ Tổng Tham Mưu.. Hai người cùng trao đổi đối
thoại sau khi có lệnh đầu hàng..
Tùy con, riêng bố đă quyết như đă nói với con
từ trước. Nếu bố đă quyết như thế,
con và các cháu cũng đồng ḷng. Toàn gia đ́nh uống
chậm những liều thuốc độc cực mạnh
đă chuẩn bị từ trước. Trung Úy Đặng Trần
Vinh kết thúc bi kịch với viên đạn bắn tung
phần sọ năo sau khi đứng chào tấm Đại Kỳ
Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ với lời hô khiến sông núi
cũng quặn thắt thương đau..
Việt Nam Cộng Ḥa Muôn Năm! Và ở vùng IV, chị Nguyễn
Thị Thàng vợ một Nghĩa Quân Đồn Giồng Trôm,
thay chồng giữ đồn đến trái lựu đạn
cuối cùng. Chị kết thúc đời sống bên cạnh
thây của chồng, các con, với những vũ khí, máy
truyền tin đă bị phá hủy..
Không để cho Việt cộng một cái ǵ cả!
Người chồng đă dặn chị trước khi
lâm tử.
Cùng lần với những danh tướng vị quốc
vong thân Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai,
Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Hồ Ngọc Cẩn...
rất nhiều người không ai biết
đă chết cùng lần vĩnh quyết Miền Nam. Anh
đi qua biên giới tử sinh nầy với mặc cảm
phạm tội - Tội đă được sống sót- Cảm
ứng có thật từ ngày 15 tháng 3, 1975 khi anh theo đoàn
người di tản dọc tỉnh lộ 7 từ Pleiku về
Phú Bổn, xuống Tuy Ḥa.. Khi đứng
trên Đèo Hải Vân ngày 25 tháng 3, nh́n đoàn người chạy
từ Quảng Trị, Huế vào Đà Nẵng. Nghe ra tiếng
hờn đau ai oán của người đàn bà chân trần,
tóc rối, lật vạt áo dài ra để thấy đứa
con nhỏ đă chết từ lâu trên tay. Anh đạp xe với
màn nước mắt pha máu; trên áo, ở đầu ngón
tay, nơi cánh mũi rây rây, nồng gắt mùi máu do khi anh
đến gần, cúi xuống chụp h́nh viên thiếu úy
và những người lính nhảy dù tự sát. Mắt
người chết nh́n anh trừng trừng khốc liệt.
Không hiểu anh đă về đến nhà theo lối nào,
lúc mấy giờ, nhưng đây thật là đoạn
đường dài nhất, mệt nhọc nhất, gớm
ghê nhất anh vừa đi qua với cổ đắng, miệng
khô rốc, trí óc vỡ loăng trỗng không.
Hậu từ,
Ngày 14 tháng 1, 2002 tại Đại Học Ngoại Ngữ thuộc
hệ thống Đại Học Đông Kinh, trong hội thảo
t́m hiểu Nguyên nhân và Tác động của Chiến Tranh
Việt Nam, anh đă có lời kết luận cho phần
nói chuyện của ḿnh... Người
Nhật là một dân tộc vĩ đại qua nghi lễ
hiến tế - Sepuku (mổ bụng tự sát) khi danh dự
cá nhân, tập thể, tổ quốc bị xúc phạm. Dân tộc
Việt Nam chúng tôi không có nghi thức uy hùng, dũng cảm ấy.
Tuy nhiên, Người Việt cũng có phương thức
riêng để bày tỏ Ḷng Yêu Nước, cách ǵn giữ
phẩm giá Con Người. Chúng tôi sử dụng Cái Chết
để chứng thực nguyện vọng kia qua cách thế
im lặng và đơn giản nhưng không kém phần cao
thượng. Sau ngày, 30 tháng 4, đă có hàng loạt những
vị tư lệnh quân đội đồng lần tự
sát trong im lặng. Nhưng không chỉ những tướng
quân chỉ huy những đại đơn vị cấp
quân đoàn, sư đoàn, mà ngay cả những viên thiếu,
trung úy cùng quyết định với những người
lính của ḿnh - Những tập thể trung, tiểu đội
nổ tung thân xác sau lời hô vĩnh biệt quê
hương. Và không phải riêng đối với những
người lính phải buông súng, mà cả gia đ́nh, vợ,
con họ cùng lần kết liễu cuộc sống khi tổ
quốc lâm tử. Cuối cùng, bi kịch không chỉ xẩy
ra với thời điểm 30 tháng tư, 1975 mà sau đó,
suốt hai thập niên 70, 80, hai triệu người Việt
Nam, không phân biệt người Nam, hay người Bắc
(những người đă sống dài lâu dưới chế
độ cộng sản Hà Nội từ 1945, từ 1954)
đă phá thân băng biển lớn, rừng rậm của
vùng Đông-Nam Á, với giá máu 600.000 người chết trên
đường di tản ra khỏi nước. Hóa ra Dân Tộc
Việt, những người Việt Nam b́nh thường
đă đồng lần thực hiện một điều
mà họ không hề diễn đạt nên lời: Chết
v́ Tự Do, để bảo vệ Phẩm Giá, Quyền
Làm Người. Người Việt Nam đă, đang hiện
thực điều mầu nhiệm nầy qua từng ngày
vượt sống trên quê hương khổ nạn, với
chính thân xác của ḿnh.
Anh nói những lời trên không
riêng cho hội thảo ở Đông Kinh mà muốn gởi đến
thế giới về Vĩ Đại Đau Thương của
toàn Dân Tộc Việt.
Xin tất cả hăy lắng nghe.
Viết lại với ngày 30 Tháng Tư,
của 29 năm sau, 1975-2004.
Phan Nhật Nam.