1965

Phật-Giáo

Giá tiền 0đ50-rượu chát; 1đ50-xanh dương vàng; 3đ00-nâu đậm lợt.

-         Họa sĩ Nguyễn-Thương-Ấn vẽ (0đ50).

-         Họa sĩ Vũ-Thành-Long vẽ  (1đ50).

-         Họa sĩ Lâm-Văn-Bê vẽ (3đ00).

Nhà in tem thơ Paris thực hiện

Số lượng in: 0đ50-1 triệu, 1đ50-1 triệu, 3đ00- 1 triệu.

Phát hành: ngày 15/05/1965, nhân dịp Lễ Phật- Đản 2509.

Mẫu vẽ trình bày các biểu hiệu của Phật-Giáo: Bánh xe Pháp-luân. Lửa Từ-bi, cờ Phật-giáo, Bông sen tượng trưng cho sự thanh-khiết. Phật-giáo tại Việt-Nam thịnh hành từ đời nhà Lý, đầu thế kỷ thứ XI. Chính vua Lý-Thái-Tổ được thọ giáo tại chùa do vị cao tăng Lý-Khánh-Vân đào tạo. Sử chép năm 1018, nhà vua phái người sang Tàu thỉnh kinh đem về phổ biến trong nước và từ đó Giáo-lý Phật-pháp đã được truyền bá sâu rộng, để trường tồn trong quảng đại quần chúng qua các thời đại(*).

Nhật ấn: Nhật-ấn "Ngày đầu tiên" tại Chánh-Thâu-Cuộc Bưu-Điện Sài Gòn.

(*) Thực ra Phật-giáo đã được truyền bá và hiện diện trên đất nước Việt Nam vào những năm đầu tiên của lịch Tây. Năm 43, sau khi cuộc khởi nghĩa của Hai Vị Vua Trưng bị thất bại, các nhà sư Phật giáo Việt Nam đã quy tụ những tư tưởng thời đại Hùng Vương và Phật giáo viết nên quyển Lục Độ Tập Kinh. Lục Độ Tập Kinh là một tập kinh được viết bằng tiếng Việt, đến ngày nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa truy tìm được danh tánh tác giả; quyển kinh này đã được bồ tát Khương Tăng Hội dịch sang tiếng Tàu vào khoảng thế kỷ thứ 3 tức khoảng bốn năm sau khi ngài sang Kiến Nghiệp năm 247 (do Ngô Tôn Quyền cai trị) truyền bá Phật giáo Việt Nam. Nội dung của nó bao gồm sáu hạnh nguyện của Bồ tát và những câu truyện Phật giáo được lưu truyền từ thời Hùng Vương cùng những tư tưởng Việt tộc. Những hạnh nguyện này đã được tổ tiên ta trình bày dưới cái nhìn của người Việt, qua đó cho ta thấy một sự tổng hợp tuyệt vời giữa tư tưởng Phật Giáo và tư tưởng Việt tộc thời Hùng Vương, tạo nên một Ý Thức Dân Tộc rõ ràng nhất để đề kháng ngoại xâm.

Chữ Nhân trong Lục Độ Tập Kinh được nhấn mạnh ‘Ta thà bỏ mạng sống một đời chứ không bỏ chí lớn, quên mình để yên ổn quần sanh, đó là lòng NHÂN bao trùm trời đất vậy‘. Tư tưởng Lợi Lạc Quần Sanh Vị Tha Vô Ngã này không thể nào tìm thấy trong tư tưởng Ấn Độ cũng như Trung Hoa cho được, nó xuất phát từ những người dân Việt có tấm lòng vô cùng thiết tha với đất nước và dân tộc khi thấy xứ sở đang rên siết dưới sự chiếm đóng của ngoại bang, chỉ có những tấm lòng nung nấu lý tưởng bồ tát cứu dân cứu đời giữa cơn lửa dữ mới có thể bộc lộ lên được như vậy mà thôi. Đây là lời Hiệu Triệu hùng hồn kêu gọi toàn dân vùng lên đấu tranh chống lại giặc Tàu xâm lược lấy lại Sơn Hà Xã Tắc nước Nam.

 

Tập Kinh còn đề cao Hạnh và Nguyện cho người dân Việt. Về Hạnh ‘Thà bỏ mình để giữ hạnh giữ giới‘. Sau thời Hai Bà Trưng, người dân Việt được hướng dẫn một cách sống mới để thích hợp với hoàn cảnh bị đô hộ, đó là cách sống cương quyết giữ gìn phong tục, tập quán cũng như tư tưởng, văn hóa Việt tộc, khẳng khái chối bỏ nền Hán hóa xâm lược, chẳng những vậy, dân ta còn tìm cách thuyết phục dân Tàu sống theo chữ Hạnh của người nước Nam, qua đó nhằm tháo bỏ dần dần sự kềm kẹp của bộ máy đàn áp Trung Hoa. Người Việt không những tiến hành đấu tranh vũ trang không thôi, mà còn chủ trương đấu tranh chính trị thu phục nhân tâm ngay chính hàng ngũ của kẻ thù, đây là một hành động vô cùng khôn ngoan mà vào thời bấy giờ ít có dân tộc nào có thể thực hiện được. Cụ thể là 60 năm sau, theo Thượng tọa Trí Siêu, người Việt đã làm cuộc khởi nghĩa đầu tiên là Tượng Lâm làm sụp-đổ hệ thống cai trị của người Tàu với sự xuất hiện của Chu Phù Sĩ Nhiếp.

 

Qua đó ta thấy Phật-giáo đã gắn bó với dân tộc Việt vào những thời điểm đen tối nhất và sau này cùng với dân tộc bước vào những thời đại huy hoàng nhất như các triều vua Lý Trần. Mời quý vị tham khảo thêm các bài Tư Tưởng Nhân Quyền của tộc ViệtĐem Đại Nghĩa Để Thắng Hung Tàn Lấy Chí Nhân Mà Thay Cường Bạo.

 

Trúc Lâm Lê An Bình bổ túc.