TAM TỒ
HUYỀN QUANG
(1254 - 1334)
Thích Phước
Sơn
Sư người làng Vạn Tải, lộ Bắc
Giang. Thỉ Tổ của Sư là Lư Ôn Ḥa, làm quan Hành khiển
dưới triều Lư Thần Tông (1128 - 1138). Trải nhiều
đời, đến Tổ phụ là Tuệ Tổ, có
công đánh giặc Chiêm Thành, nhưng không không chịu ra làm
quan, chỉ thích những chuyện hay, sách lạ, và vui thú
ruộng vườn. Mẹ Sư là Lê Thị, vốn người
hiền đức, bản tính nhân từ, năm 30 tuổi
vẫn chưa có con trai. Nhân gặp lúc có bệnh dịch
hoành hành, bà đi hái thuốc trên núi Chu Sơn, dừng chân tạm
nghỉ tại một ngôi chùa tên Ma Cô Tiên. Trong khi chợp mắt,
bỗng mơ thấy một con khỉ lớn, đầu
đội mũ triều thiên, ḿnh mặc áo hoàng bào, ôm mặt
trời hồng, ném vào ḷng bà. Lê Thị kinh hăi thức giấc,
thấy ḷng rung động, trở về thuật chuyện
lại với một thầy đoán mộng. Thầy ấy
đoán rằng Lê Thị sẽ hoài thai và sinh ra quư tử.
Sau đó không lâu, Thiền sư Tuệ Nghĩa trụ tŕ
chùa Ngọc Hoàng - thuộc làng Vạn Tải - sau giờ tụng
kinh, trở về liêu pḥng, tựa án Thiền định,
bỗng mơ thấy các ṭa trong chùa đèn chong sáng rực,
chư Phật tôn nghiêm, Kim cương, Long thần đông đúc
la liệt. Đức Phật chỉ Tôn giả A-Nan bảo:
"Ngươi hăy tái sinh xuống Đông độ xiển
dương Chánh pháp". Bỗng chú tiểu gơ cửa, Tuệ
Nghĩa chợt tỉnh, trong ḷng lâng lâng hoan hỷ.
Năm ấy Sư ra đời (1254). Khi sanh có ánh
sáng mờ ảo, mùi hương thơm nức nhà. Trước
đó Lê Thị hoài thai Sư đến 12 tháng mà bụng
không chuyển động, bà nghi bị bịnh, nên t́m thuốc
uống phá thai, uống đến bốn lần mà thai vẫn
không hư. Lúc mới sinh ra, Sư đă là một đứa
bé bụ bẫm, rắn chắc, cha mẹ rất yêu quư. Đến
tuổi đồng ấu, dung mạo dị thường,
có chí khí của bậc siêu phàm trác việt, nghe một biết
mười, lại có tài như Nhan Hồi Á thánh, nên được
đặt tên là Tải Đạo.
Năm 20 tuổi (1273), Sư trúng tuyển khoa thi Hương,
đến năm sau lại đậu thủ khoa tại
khoa thi Hội. Vua định gả công chúa Liễu Nữ
(cháu của An Sinh vương), nhưng Sư từ chối.
Khi làm quan, Sư phụng mệnh tiếp sứ giả phương
Bắc; trong các văn thư trao đổi, Sư trích dẫn
kinh nghĩa rất tinh tường và ứng đối lưu
loát như nước chảy. Văn chương và ngôn ngữ
hơn cả Trung Quốc và các lân bang. Chính tay Điều
Ngự từng phê vào tác phẩm Thích Khoa Giáo của Sư;
"Phàm kinh sách đă qua tay Huyền Quang biên soạn và hiệu
đính th́ không thể thêm hay bớt một chữ nào nữa".
Năm 1305, nhân đi theo Anh Tông (1293 - 1314) đến
chùa Vĩnh Nghiêm, thấy Quốc sư Pháp Loa (1284 - 1330) đang
hành đạo, ḷng sinh ngưỡng mộ, nhớ lại
duyên xưa, liền cảm thán: "Làm quan lên Bồng Đảo,
đắc đạo đến Phổ Đà, trên cơi nhân
gian là tiên, cảnh giới Tây phương là Phật. Phú quư
vinh hoa nào khác mây trắng mùa hạ, lá vàng mùa thu, có lâu dài chi
mà lưu luyến măi !". Nhân đó, dâng biểu từ
quan, đến chùa Vũ Ninh xuất gia, thọ giới với
Bảo Phác (*). Sau đó, Sư phụng mệnh
đến trụ tŕ chùa Vân Yên núi Yên Tử, mở trường
dạy học. Tăng, Ni theo học đông đến số
ngh́n Điều Ngự lại sai Sư biên soạn Chư
Phẩm Kinh và các sách khác.
Nghĩ đến công ơn sinh thành dưỡng dục
sâu dày của cha mẹ mà chưa có dịp báo đáp, Sư
trở về làng lập một ngôi chùa đặt tên là Đại
Bi, rước cha mẹ về nghỉ ở đây để
an dưỡng tuổi già. Xong việc, Sư trở về
chùa ngay tiếp tục công việc hành đạo.
NỖI OAN THỊ BÍCH
Tương truyền một hôm vua nói với các
quan: "Người ta sinh ra trong khoảng trời đất
này, chịu sự chi phối của âm dương, thích ăn
ngon, ưa mặc đẹp, ḷng ham muốn ấy bọn
chúng ta đều đủ cả. Có lẽ chỉ một
ḿnh thầy Huyền Quang là không như thế chăng ? Từ
khi sinh đến giờ vẫn sắc sắc không không, như
nước không sóng, như gương không bụi, phải
chăng do thầy đè nén ḷng dục hay là không có dục vọng
?". Bỗng nhiên quan văn nhất sinh học sĩ, lưỡng
quốc Trạng nguyên là Mạc Đỉnh Chi ứng tiếng:
- "Vẽ cọp, vẽ da, xương khó vẽ,
Biết người, biết mặt, biết đâu
ḷng".
(Họa hổ, họa b́, nan họa cốt,
Tri nhân, tri diện, bất tri tâm),
xin hăy thí nghiệm
rồi sẽ rơ.
Vua cho là phải, liền ngầm sai người
cung nữ tên Điểm Bích, hiệu Tam Nương, tuổi
dưới hai mươi có nhan sắc kiều diễm lại
có tài ứng đối lanh lợi, đến chùa Vân Yên thử
thách Thiền sư.
Trước lúc ra đi, vua căn dặn Điểm
Bích: "Vị Tăng ấy vốn không ưa sắc dục,
tính t́nh lại cương trực, giới hạnh rất
cao nghiêm. Ngươi vừa có nhan sắc, vừa có tài ăn
nói, lại thông hiểu sử kinh, vậy hăy đến thử
vị ấy. Nếu thấy Thầy c̣n quyến luyến
t́nh dục hăy dụ lấy cho được Kim tử
mang về làm bằng chứng, sẽ được trọng
thưởng. Nếu man trá th́ bị tội, người
phải cẩn thận".
Thị Bích vâng lệnh, đem theo một tỳ nữ,
đến thẳng chùa Vân Yên, gặp một Ni sư già, nhờ
bà tiến dẫn tới Quốc sư, để xin xuất
gia học đạo. Ni sư già sai Thị Bích hằng ngày
dâng trà nước lên Sư. Sư thấy Thị Bích có cử
chỉ nguyệt hoa, không phải là người Phật tử
chân chính cầu đạo, bèn gọi Ni sư lên quở. Thị
Bích thấy Thiền sư giới hạnh uy nghiêm, khó dùng sắc
đẹp chinh phục, liền nảy sinh một kế: Đêm
ấy Bích nói với vị Ni sư rằng ḿnh là con nhà thi
lễ khoa bảng, v́ cha thâu thuế xong bị kẻ cướp
cướp mất, không lấy ǵ để nạp cho triều
đ́nh. Đến kỳ hạn mà không chạy đủ
số tiền th́ không những ông bị tội mà cả vợ
con cũng sẽ liên lụy. Ni sư già đem câu chuyện
ấy thuật lại với đại chúng, ai cũng thương
t́nh. Quốc sư định về triều điều
trần xin tội cho cha Thị Bích. Nhưng có một chú tiểu
nói: "Pháp luật là việc công của thiên hạ, để
mất của công th́ phải chịu tội, chúng ta không v́
t́nh riêng mà can thiệp. Như vậy th́ Pháp luật c̣n c̣
nghĩa ǵ, tốt hơn là nên quyên tiền giúp họ mà
thôi". Huyền Quang cho là phải, liền lấy Kim tử
vua ban, đưa cho Thị Bích. Tăng, Ni ai có tiền cũng
đều đem cho.
Bích được Kim tử, trở về cung bàn
bịa chuyện như sau cho vua nghe:
- Thiếp đến chùa Vân Yên, giả làm người
xuất gia, vị Ni sư già cho thiếp bưng trà nước
hầu Sư. Trải hơn một tháng mà Sư chưa từng
nh́n hỏi đến thiếp. Một hôm kia Sư lên chánh điện
tụng kinh, rồi cùng đại chúng lui về pḥng an nghỉ.
Đến canh ba, thiếp lẻn tới Thiền thất để
nghe động tĩnh, bỗng nghe Sư ngâm kệ như
sau:
"Vằng vặc trăng mai ánh nước,
Hiu hiu gió trúc ngâm sênh.
Người ḥa tươi tốt cảnh ḥa lạ,
Mâu Thích-ca nào thử hữu t́nh".
Sư ngâm đi ngâm lại tới ba lần. Thiếp
mới vào pḥng từ biệt Sư, hẹn năm tới sẽ
trở lên xin học đạo. Sư lưu thiếp lại
một đêm tặng thiếp Kim tử.
Vua nghe nói, ḷng bồi hồi không vui, than rằng:
"Việc này nếu quả có thực th́ chính ta là người
giăng lưới bắt chim; c̣n nếu như không, th́ cũng
khó tránh khỏi mối ngờ (ngồi xỏ giày nơi đám
ruộng dưa)". Vua liền mở đại hội
Vô Già, trên bàn cúng bày biện đủ loại, cà-sa, pháp y,
ngũ phẩm, lẫn lộn với đồi mồi,
vàng bạc, châu ngọc v.v… rồi sai người thỉnh
Huyền Quang đến chủ lễ. Chứng kiến cảnh
tượng ấy, Huyền Quang biết ḿnh bị nghi oan,
liền ngửa mặt lên trời thở một hơi
dài, rồi lên đàn ba lượt, xuống đàn ba lượt,
vọng bái Thánh Hiền mười phương, tay trái cầm
b́nh bạch ngọc, tay phải cầm nhánh dương
xanh, mặc niệm thần chú, tẩy tịnh khắp trên
dưới pháp điện. Bỗng thấy một đám
mây đen hiện lên, bụi bay đầy trời mù mịt.
Một lát bầu trời quang tạnh, mọi thứ tạp
vật trên pháp điện đều bị cuốn bay đi
hết, chỉ c̣n hương hoa và lục cúng. Những người
xem hội ai nấy đều thất sắc kinh hoàng. Vua
thấy pháp hạnh của Sư thấu cả trời đất,
liền rời chỗ ngồi lạy xuống để tạ
lỗi. Rồi phạt Thị Bích bắt quét tước một
ngôi chùa trong cung Cảnh Hưng. Từ đó vua càng thêm tôn
kính, gọi Sư là Tự Pháp.
Sau đó Sư đến ở Thanh Mai sáu năm,
rồi về trụ tŕ chùa Tư Phúc ở Côn Sơn, lập
ra đài Cửu Phẩm Liên Hoa, và soạn lại Chư Phẩm
Kinh để lưu truyền hậu thế.
Sư viên tịch ngày 23 tháng giêng năm Giáp tuất
(1334) tại Côn Sơn, đến ngày 24 tin tức mới về
làng Vạn Tải, nên dân làng lấy ngày này làm ngày giỗ Sư.
Vua Minh Tông cúng dường vật liệu, bảo môn đồ
xây tháp cho Sư ở phía sau chùa, và ban thụy hiệu là
Trúc Lâm Đệ Tam Đại Tự Pháp Huyền Quang Tôn
Giả.
Tác phẩm của Huyền
Quang gồm có:
1. Chư Phẩm Kinh: Tuyển tập những
phẩm kinh thiết yếu.
2. Công Văn Tập: Tuyển tập những
văn sớ điệp dùng trong các nghi lễ Phật giáo.
3. Thích Khoa Giáo: Tập sách giáo khoa về
Phật học.
4. Ngọc Tiên Tập: Tập thơ tuyển.
Những tác phẩm trên hiện nay đều đă
thất lạc, chỉ c̣n lại 24 bài thơ và một bài
phú Nôm là Vịnh Vân Yên tự phú.
_____________________
(*) Bản Hạnh
Ngữ Lục nói Sư thọ giáo với Pháp Loa là nhầm.
Thích Phước Sơn
Nguồn: www.quangduc.com