Những
Hư-Cấu Liên Quan Đến Các Vị Vua Đời Nhà
Trần (***)
Trúc Lâm Phúc
Lộc
Ngày 1
tháng 3, năm Ất Dậu (1285), giặc Nguyên đuổi
theo rất gắt hai vua (Thượng hoàng Thánh Tông và Hoàng
Đế Nhân Tông) phải bỏ thuyền, xử dụng
đường trên bộ đi đến Thủy-Chú
(không rơ nơi nào ngày nay), sau đó lấy thuyền ra cửa
Nam-Triệu, vượt biển Đại-Bàng (thuộc
địa phận xă Đại-Bàng, huyện
Nghi-Dương, tỉnh Hải-Dương) đi vào
Thanh-Hóa. Như thế ta thấy ở đây quân đội
Đại Việt đang rơi vào thế tam đầu
thọ địch đúng như kế hoạch của kẻ
địch dự trù là các cánh quân của Thoát Hoan từ
Thăng Long tiến về phối hợp với các cánh
quân của tướng Hữu thừa Khoan Triệt, Vạn
Hộ Mông Cổ Đăi và Bột La Hợp Đát Nhi dẫn
quân bằng đường bộ và Lư tả thừa Ô Mă
Nhi Bạt Đô (sau khi chiếm xong băi Tha-Mạc) bằng
đường thủy; cánh quân của Toa Đô giải
quyết xong chiến trường Thanh, Nghệ cũng thẳng
đường tiến tới Thiên Trường. Để
giải tỏa thế gọng kềm này ta phải giải
quyết ra sao?
Từ
Thiên Trường một cánh quân của ta rút về các lộ
vùng đông bắc (Hải Pḥng, Quảng Ninh) để dụ
địch rượt theo rồi chờ cho Toa Đô dẫn
quân ra khỏi Thanh Hóa th́ ta mới vượt biển Đại-Bàng
như đă nói ở trên để vào chiếm lại Thanh
Hóa làm căn cứ đóng quân. Toa Đô vừa phải vất
vả ngược xuôi để rượt đuổi
quân ta, rốt cuộc cũng chẳng được ǵ lại
mất đi cứ điểm vừa mới chiếm.
Cương Mục Chính Biên quyển VII có đoạn viết:
«Lúc ấy quân Nguyên đuổi theo riết, nhà vua phải
mời thượng hoàng cùng ngự một chiếc thuyền
con, chạy ra nguồn Tam Trĩ, một mặt khác, sai
người kéo thuyền của vua vẫn ngự đi ra
ngả núi Ngọc Sơn, để đánh lừa quân
Nguyên. Tướng Nguyên do thám biết được
mưu ấy, mới sai Hữu thừa là Khoan Triệt, Tả
thừa là Lư Hằng chia đường đuổi theo.
Nhà vua phải đổi đi đường bộ đến
xă Thủy-Chú, rồi lại đi thuyền đến sông
Nam-Triệu, qua cửa biển Đại-Bàng vào Thanh Hóa».
Ngày 9 tháng 3 năm Ất Dậu (1285), hai
vua bị tướng Nguyên là Giảo-Kỳ và Đường-Cổ-Đới
đem chu-sư (hải quân) ra biển vây và suưt bắt
được các ngài. May thay nhờ tướng Nguyễn
Cường tận lực hộ giá mới có thể rút ra
được về phía nguồn Tam-Trĩ, đồng thời
giả đưa thuyền rồng đi miền Ngọc-Sơn
(miền biển Thanh Hóa) để đánh lừa giặc.
Quân thù tưởng là thuyền hai vua, chúng chận bắt
và tịch thu rất nhiều vàng bạc cũng như nam nữ
của ta.
Ở
đoạn này ta thấy rằng sau khi quân Đại Việt
rút khỏi kinh thành Thăng Long rồi liên tiếp xảy
ra các trận đánh Tha Mạc, B́nh Than, A Lỗ, Đại
Hoàng, Thanh Hóa th́ hai vua và quân đội Đại Việt gần
như rơi vào thế bị động phải liên tục
di chuyển để tránh né sự truy đuổi của
quân Nguyên theo Cương Mục ghi «nhà vua phải chạy
loạn long đong»; Việt Nam Sử Lược của
Lệ Thần Trần Trọng Kim viết: «Nhân Tông
kinh hăi, Thượng hoàng đêm ngày lo sợ»; Đại
Việt Sử Kư Toàn Thư chép: «Thế giặc bức
bách, hai vua ngầm đi chiếc thuyền nhỏ đến
Tam Trĩ Nguyên…xa giá nhà vua phiêu bạt». Các vị sử
gia vừa kể có những lời như vậy đối
với một vị đại anh hùng dân tộc như
Đức Hoàng đế Trần Nhân Tông th́ hơi vội
vàng và thiếu khách quan.
Hăy xem
t́nh h́nh quân thù ra sao, theo Nguyên sử 13 tờ 8b8-10 ghi: «Tháng
3 ngày Bính Tư Kinh Hồ Chiêm Thành hành tỉnh xin thêm quân. Lúc bấy
giờ Trần Nhật Huyên(*) trốn về hai xứ Thiên
Trường và Trường Yên, binh lực lại tập
hợp. Hưng Đạo Vương đem hơn ngàn chiến
thuyền về nhóm Vạn-Kiếp, c̣n Nguyễn Lộc th́
ở Vĩnh B́nh, mà quan quân đi xa lại đánh lâu, treo
lơ lửng ở giữa. Quân của Toa Đô và
Đường Cổ Đăi lại đến không
đúng lúc, nên xin thêm quân. Vua cho đi đựng thủy là
nguy hiểm, ra lệnh cho quân tăng viện đi theo
đường bộ» -Toàn Tập Trần Nhân Tông-Lê Mạnh
Thát Việt dịch (**).
Như vậy
th́ quá rơ ràng, theo Nguyên Sử cho biết th́ quân Mông-cổ cũng
đang rơi vào thế bị động. Thế bị
động đó là chúng phải đối phó với nghĩa
quân của ta liên tục quấy rối những nơi
địch chiếm đóng. Bằng chứng là phản thần
Trần-Kiện trên đường về chầu Hốt-Tất-Liệt
lại được quân ta cho đi chầu âm phủ;
để đối phó với những hoạt động
tiêu thổ kháng chiến của quân dân nhà Trần, chúng bắt
buộc phải xin thêm quân lính, xây dựng thêm nhiều
đồn bót để gia tăng pḥng thủ cũng
như kiểm soát những vùng đă chiếm được.
Ở đây chứng minh một điều, nếu thật
sự kẻ thù có khả năng làm cho quân ta lúng túng, bị
động th́ cần ǵ Mông-cổ phải xin thêm viện
binh như thế? Như là «nhà vua phải chạy loạn
long đong»… xa giá nhà vua phiêu bạt» v.v…, làm sao ta có
thể chuyển bại thành thủ và từ thủ chuyển
sang công khi hóa giải thế gọng kềm mà chúng muốn
tạo ra để vây hăm quân ta phải quy phục, th́ nay
chính đoàn quân xâm lược lại bị rơi vào thế
trận mà Đức Hoàng đế Trần và Hưng Đạo
Vương đă sắp xếp sau cuộc họp ở Hải-Đông.
Đó là rút lui, pḥng thủ và phản công chiến lược.
Hiện tại ta ở giai đoạn nh́ là pḥng thủ chiến
lược để chuẩn bị bước qua giai
đoạn ba là tổng phản công chiến lược.
Chưa hết,
tại chiến trường Thanh Hóa quân Mông-cổ đă gặp
sức phản kháng rất quyết liệt của người
dân địa phương. Ngày 9 tháng 3 năm 1285, tướng
Nguyên là Giảo Kỳ kéo quân đến Bố Vệ (thuộc
Cần Bố, Thanh Hóa). Người dân trong vùng nổi lên
đánh địch, trong đó có dân chúng Hương Yên Duyên
(xă Quảng Hùng, Quảng Xương, Thanh Hóa) dưới sự
chỉ huy của ông Lê Mạnh tước là Đại
Toát đă chống cự quyết liệt khiến chúng
không biết đường chống đỡ, rút lui cũng
không được tiến tới cũng chẳng xong, cuối
cùng v́ quân ta có có kẻ phản bội nên giặc Nguyên mới
thoát được và chúng c̣n đốt phá nhà cửa của
ông. Sự kiện này không thấy ghi trong sử nhưng nhờ
công đức xây chùa nên bia chùa Hưng Phúc ghi lại rằng:
«Hữu tướng giặc là Toa Đô tiến quân vào
hương này. Ông đem người trong hương chận
giặc ở bến Cổ Bút. Hai bên đánh nhau giặc
cơ hồ không rút chạy được. Nhưng v́ có kẻ
gian hàng giặc chỉ đường nên nhà cửa của
ông bị đốt phá» (Thơ văn Lư Trần, Hà Nội
xuất bản 1988 tập II quyển thượng trang
648). Đó cũng là lư do giải thích v́ sao đạo quân của
Toa Đô và Đường Cổ Đăi đă không đúng
hẹn với Thoát Hoan ở Thăng Long trong mưu toan bao
vây các lực lượng của quân đội Đại
Việt.
Trong lúc
này Hưng Đạo Vương được lịnh
đem hơn 1000 chiến thuyền về Vạn-Kiếp
là nơi trước đây đă rút lui, c̣n tướng
Nguyễn Lộc đóng ở Vĩnh B́nh tạo thế gọng
kềm đối với quân thù. V́ thế cả ba cánh quân
của chúng do Thoát Hoan, Ô Mă Nhi và Toa Đô đều nằm
ở giữa ṿng vây mà Đức Hoàng đế Trần và
Hưng Đạo Vương dầy công sắp xếp kể
từ sau trận Nội-Bàng và Chi-Lăng.
Với
tài dụng binh như thần của Đức Hoàng đế
Trần Nhân Tông như thế, quân đội Đại Việt
đang ở thế bị bao vây cả ba hướng, thế
mà quân ta đă lật ngược được thế cờ
trong những lúc nguy cấp nhất, khiến kẻ thù
rơi vào giữa ṿng vây của quân ta, như Nguyên sử
nói «quan quân đi xa đánh lâu, lại treo lơ lửng ở
giữa». Thế mà không hiểu v́ sao, ngoài tác giả một
số quyển sử như Cương Mục, Toàn
Thư, Việt Nam Sử Lược, có cái nh́n hơi tiêu cực
về Đức Hoàng đế Trần Nhân Tông về giai
đoạn này th́ có những người khác lại đi
xa hơn như trong quyển Histoire du Viet Nam des origines à 1858
do Lê Thành Khôi là tác giả được nhà Sudestasie xuất
bản năm 1987 tại Paris. Trong quyển này ông Lê Thành
Khôi viết như sau ở trang 186:
«Nhân Tông, bord d’un sampan léger, était descendu Hai-dong (Quang-Yên). Il fit mander Hung-dao et l’interrogea,
sucieux: «La puissance de l’ennemi semble telle que je crains qu’une guerre
prolongée n’entraîre pour le peuple d’immenses destructions. Ne vaut-il pas
mieux nous rendre pour l’en sauver ?» Le généralissime répondit: «Ces
paroles manifestent les sentiments d’humanité de Votre Majesté, mais les
Temples Dynastiques et les Dieux du Sol et des Moissons, que de viendraient-ils
alors? Si vous voulez vous rendre, faites d’abord trancher ma tête!». Nghĩa
là: «Vua Nhân Tông đi thuyền nhẹ xuống Hải-Đông
(Quảng-Yên). Ngài cho vời Hưng-Đạo-Vương
đến hỏi: «Thế giặc dữ dội như
thế e rằng cuộc chiến sẽ kéo dài gây tàn hại
cho dân chúng, thôi th́ để trẫm đầu hàng giặc
để cho dân chúng bớt khổ». Hưng-Đạo-Vương
trả lời: «Đức ngài nói câu đó thật là vị
vua có ḷng thương dân, nhưng rồi sơn hà xă tắc
sẽ ra sao? Nếu bệ hạ muốn hàng giặc th́ xin
chém đầu thần trước đă».
* Việt Sử Toàn Thư của
ông Phạm Văn Sơn biên soạn ở trang 184 có mẩu
đối thoại giữa Đức Hoàng đế Trần
Nhân Tông và Hưng Đạo Vương khi hội hợp ở
Hải-Đông trên một chiếc thuyền nhẹ nội
dung như sau: «Vua Nhân Tông được tin Hưng Đạo
Vương lui quân khỏi Lạng Sơn liền xuống
chiếc thuyền nhỏ ra Hải Đông (tức là Hải
Dương), triệu Hưng Đạo Vương đến.
Nhân Tông nói: Thế giặc lớn như vậy chống với
nó e dân sự sẽ tàn hại hay là hàng chúng nó để cứu
lấy dân?». Hưng Đạo Vương khẳng khái trả
lời rằng: «Bệ hạ v́ ḷng thương dân mà nghĩ
như vậy nhưng Tôn Miếu và Xă Tắc th́ sao? Nếu
bệ hạ muốn hàng th́ hăy chém đầu tôi đi
trước đă!»
* Quyển Trần Hưng Đạo
của Hoàng Thúc Trâm ở trang 77 có ghi: «Vua Trần-Nhân-Tôn
ngự chiến thuyền nhẹ, lánh ra Hải đông (Tục
gọi bầu Chi-Lăng. Nay thuộc tổng Chi-lang gần
ga Tuần-muội ở châu Ôn, tỉnh Lạng-sơn. An
Nam Chí Lược chép Chi-lăng tức là «Lăo thử quan»
nghĩa là cửa chuột già».
- Hai đoạn văn nêu trên
cho thấy sự kiện xảy ra như nhau khi vua Nhân Tông
(hay Tôn) gặp Hưng-Đạo-Vương ở Hải
Đông. Chỉ có khác một điều là câu nói muốn «đầu
hàng» quân Mông-cổ của vua Nhân Tông được ghi
trong Việt Sử Toàn Thư vốn không có trong các quyển
cổ sử cũng như quyển Trần Hưng Đạo
nói trên.
* Ngày 12/05/2003, bài Khí Phách Của
Vị Tướng Tại Mặt Trận do Bán Nguyệt
San ƯDân (Ydannews@aol.com)phổ biến
trên diễn đàn công luận(diendancongluan@yahoogroups.com)
và diễn đàn chính luận (chinhluan@yahoogroups.com), sau
đó được đăng lại trong Bản Tin Quân
Nhân, tháng 06/2003 xuất bản tại Pháp, có đoạn viết
như sau: «Năm 1284, khi giặc Mông Cổ đem đại
quân tràn sang tấn công nước ta lần thứ hai, khiến
vua Trần Nhân Tôn phải lui binh về Vạn Kiếp và nảy
sinh ư định đầu hàng giặc để tránh nhân
dân phải đổ máu. Nguyên soái Trần Hưng Đạo,
trong vai tṛ thống lĩnh toàn quân đă dơng dạc thưa
với nhà vua rằng: "Nếu Bệ Hạ muốn
hàng, xin hăy chém đầu thần trước đă".
Câu nói bất hủ nầy của Đức Trần
Hưng Đạo đă có sức mạnh vạn năng
khiến vua Trần Nhân Tôn phải hủy bỏ ư định
đầu hàng giặc và ra công chống ngoại xâm, đem
lại thắng lợi cho dân Việt». Về bài này tác
giả nhầm lẫn ở chỗ người chỉ huy
ở Vạn Kiếp là Hưng Đạo Vương.
- «Sự bố trí lực
lượng của quân đội Đại Việt
được ghi nhận như sau: ở mặt Đông-Bắc
quân ta trấn thủ Vĩnh B́nh, Động Bàng, Nội
Bàng, Vạn Kiếp, B́nh Than, chỉ huy mặt trận này
là Quốc Công Tiết Chế Trần Hưng Đạo;
đối phó với cánh quân Vân Nam ở phía Tây Bắc th́
giao cho Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật chỉ
huy; phía Nam kinh đô ta xây dựng một số địa
điểm pḥng thủ như Đà Mạc, A Lỗ và
Đại Hoàng do Bảo Nghĩa Hầu Trần B́nh Trọng
chỉ huy. Trên cùng, vị Tổng
chỉ huy chiến trường là Đức Hoàng Đế
Trần Nhân Tông… Do v́ các cứ điểm miền Bắc
thất thủ trước sức tấn công vũ bảo
của giặc Nguyên, Hưng Đạo Vương đă
cùng với binh lính cấp tốc rút khỏi Vạn Kiếp
để bảo toàn lực lượng, khi nghe tin quân ta bị
thiệt hại nặng như vậy, nên Đức Hoàng
đế Trần đă vội đi thuyền nhẹ ra Hải
Đông (chỉ chung vùng Hải Dương cũ nay thuộc
tỉnh Hải Hưng và Hải Pḥng hiện nay) để
họp bàn các công việc cấp bách đồng thời tái
tổ chức lại lực lượng quân đội
nhà Trần. Sau cuộc họp thu gọn này quân dân nhà Trần
đă có một chiến lược thích hợp với t́nh
h́nh trước mặt (***)». Do đó người lui
binh từ Vạn Kiếp về là Hưng Đạo
Vương Trần Quốc Tuấn chứ không phải
Đức Hoàng đế Trần Nhân Tông như bài viết
Khí Phách Của Vị Tướng Tại Mặt Trận của
Bán Nguyệt San Ư Dân đă tŕnh bày, hơn nữa «ư định
đầu hàng giặc» của Đức Hoàng đế
Trần Nhân Tông lại càng không có cơ sở để hiện
hữu.
* Việt Sử Khảo Luận
tập 2, của tác giả Hoàng Cơ Thụy do Hội
Văn Hóa Hải Ngoại xuất bản 1988 dầy 410
trang. Ở trang 325 ghi như sau: «Vua Thánh Tông đi thuyền
nhỏ xuống Hải-Đông (Hải Dương bấy
giờ), cho vời Hưng Đạo Vương đến
hỏi: Thế giặc to như vậy, mà chống chọi
với nó th́ dân bị tàn hại, hay là trẫm chịu hàng
để cứu muôn dân ?» Hưng Đạo tâu: «Bệ
hạ nói câu ấy thật là nhân đức, nhưng mà tôn
miếu xă tắc th́ sao. Nếu bệ hạ muốn hàng,
xin trước hăy chém đầu tôi đi đă, rồi sau
sẽ hàng». Ở đây tác giả Hoàng Cơ Thụy
đă chép nhầm một số sự kiện sau đây: 1/
Vua Trần Thánh Tông trị v́ từ 24/2/1258 đến
22/10/1278, trong suốt 20 năm này quân Mông-cổ không có
đem quân sang đánh Đại Việt, chỉ có căng
thẳng ngoại giao giữa ta và nước Tàu; 2/ Địa
điểm Hải Đông mà tác giả Hoàng Cơ Thụy
ghi rằng vua Thánh Tông gặp Hưng Đạo
Vương, nó đă xảy ra
vào cuộc kháng Nguyên lần thứ nh́ năm 1285, người
làm vua cũng như chỉ huy quân đội Đại Việt
lúc đó là vua Nhân Tông (vua Thánh Tông lúc này là Thượng
hoàng). Đây là sự lầm lẫn từ nhân vật (vua
Thánh Tông); câu nói (hay là trẫm chịu hàng để cứu
muôn dân… Nếu bệ hạ muốn hàng, xin trước hăy
chém đầu tôi đi đă, rồi sau sẽ hàng); cho
đến địa điểm Hải-Đông, địa
điểm này đă diễn ra cuộc gặp giữa vua
Nhân Tông và Hưng Đạo Vương trong cuộc kháng
Nguyên lần thứ nh́ 1285.
- Theo Toàn Thư Bản in Nội
Các Quan Mộc bản khắc năm Chính Ḥa thứ 18 (1697)
do các soạn giả Lê Văn Hưu, Phan Văn Tiên, Ngô Sĩ
Liên v.v…đồng biên soạn (chuyển sang ấn bản
điện tử do Lê Bắc, Công Đệ, Ngọc Thủy,
Tuyết Mai, Hồng Ty, Nguyễn Quang Trung 2001) ở trang
173 ghi: «Thế giặc rất mạnh, [vua] lại phải
lui giữ sông Thiên Mạc (theo Cương Mục là khúc sông
Hồng chảy qua vùng băi Mạn Trù, nay thuộc xă Tân Châu,
huyện Châu Giang, tỉnh Hải Hưng). Phụ Trần
theo vua bàn những việc cơ mật, rất ít người
biết được điều đó. Vua ngự thuyền
nhỏ đến thuyền thái úy Nhật Hiệu hỏi kế
sách (chống giặc). Nhật Hiệu đương dựa
mạn thuyền, cứ ngồi không đứng dậy nổi,
chỉ lấy ngón tay chấm nước viết hai chữ
«nhập tống» (nghĩa là bỏ chạy vào đất Tống)
lên mạn thuyền…Vua lập tức dời thuyền
đến hỏi thái sư Trần Thủ Độ, Thủ
Độ trả lời: «Đầu thần chưa
rơi xuống đất, bệ hạ đừng lo ǵ
khác». Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương
Mục được Quốc Sử Quán triều Nguyễn
biên soạn 1856-1881do viện Khoa Học Xă Hội Việt
Nam phiên dịch (chuyển sang ấn bản điện tử
do Lê Bắc, Công Đệ, Ngọc Thủy, Tuyết Mai, Hồng
Ty, Nguyễn Quang Trung 2001) ở trang 209 cũng ghi như thế.
[Vua] ở đây tức là vua Thái Tông (hay Tôn tức là phụ
hoàng của vua Thánh Tông và là nội tổ của vua Nhân
Tông). Đây là hai quyển cổ sử đă ghi tới
sự kiện Vua Thái Tông vấn kế thái sư Trần Thủ
Độ giữa lúc thế giặc đang ở lúc hung
hăng nhất. Và Trần Thủ Độ đă
cương quyết trả lời: «Đầu thần
chưa rơi xuống đất, bệ hạ đừng
lo ǵ khác». Ngoài ra hai quyển này không có ghi một lời
nào về sự kiện Hoàng đế Trần Nhân Tông «muốn
hàng» quân Mông-cổ.
* Quyển Tiêu Sơn Tráng Sĩ
của tác giả Khái Hưng do Văn Nghệ xuất bản
năm 1968, tại Sài G̣n, ở trang 263 ghi: «Vua Nhân-Tôn nhà Trần nghe tin
Hưng-Đạo-Vương bại trận chạy về
Vạn-Kiếp, liền ngồi thuyền xuống Hải-Đông,
rồi vời Vương đến bàn rằng: «Thế
giặc to, mà ḿnh chống với nó th́ dân bị tàn hại,
hay là trẫm ra hàng để cứu muôn dân?». Hưng-Đạo
quỳ xuống kiếm dâng vua Nhân-Tôn rồi vươn cổ
mà nói rằng: «Bệ-hạ nói câu ấy thật nhân đức,
nhưng c̣n đất nước th́ sao? Nếu bệ-hạ
muốn hàng, xin trước hết chém đầu tôi
đă, rồi hăy hàng».
- Khâm Định Việt Sử
Thông Giám Cương Mục do Quốc Sử Quán triều
Nguyễn biên soạn 1856-1881do viện Khoa Học Xă Hội
Việt Nam phiên dịch (chuyển sang ấn bản điện
tử do Lê Bắc, Công Đệ, Ngọc Thủy, Tuyết
Mai, Hồng Ty, Nguyễn Quang Trung 2001) ở trang 226-227 có
ghi: «Quân Nguyên kéo tới Lộc Châu, lại sai Bả tổng
là A Lư sang nói rơ về lư do cất quân là cốt sang đánh
Chiêm Thành chứ không có ư ǵ khác. Quân ta ngăn cản ở
núi Kheo Cấp, quân Nguyên không tiến sang được.
Chúng liền tiến theo cửa ải Khả Ly, quan quân ta
chống cự lại không được; chúng bèn vào cửa
ải Chi Lăng, quan quân ta lui về giữ bến Vạn
Kiếp. Nhà vua ngự chiếc thuyền nhỏ sang Hải
Đông, lúc ấy trời đă chiều mà chưa ăn
cơm sáng, có tiểu tốt là Trần Lai đem cơm gạo
hẩm dâng lên, nhà vua khen là người trung nghĩa, cho chức
Thượng phẩm…Nhà vua sang Hải Đông hạ lịnh
cho Quốc Tuấn điều khiển dân quân các lộ Van
Trà, Ba Điểm, chọn người khỏe mạnh cho
làm tiền phong…». Vua Nhân-Tông gặp Hưng-Đạo-Vương
ở Hải-Đông để bàn kế chống giặc cũng
như hạ lịnh cho Hưng-Đạo-Vương tấn
công giặc Nguyên, chứ không phải có ư đầu hàng
như tác giả Tiêu Sơn Tráng Sĩ đă nêu ra. Không rơ tác
giả trích đoạn này từ đâu ra, có phải là sự
lẫn lộn giữa vua Thái Tông và vua Nhân Tông hay chăng?.
* Đại Cương Lịch
Sử Việt Nam tập 1, Trương Hữu Quưnh, Phan
Đại Doăn, Nguyễn Cảnh Minh đồng biên soạn,
xuất bản 1998 tại Hà Nội ghi ở trang 226 như
sau về sự kiện này: «Thuyền chủ tướng
Trần Quốc Tuấn xuôi sông Lục Nam về Vạn Kiếp.
Nghe tin quân ta rút lui, vua Thánh Tông vội vă đi thuyền ra gặp
Quốc Công tiết chế. Trời chiều, nhà vua vẫn
chưa ăn sáng, người lính cận vệ nắn phần
gạo xấu của ḿnh dâng lên. Thánh Tông vờ hỏi Thống
soái «Thế giặc như thế ta phải hàng thôi». Trần
Quốc Tuấn nghiêm chỉnh trả lời: «Bệ hạ
chém đầu tôi rồi hăy hàng». (đây ghi là trích từ
Đại Việt Sử Kư Toàn Thư tập II trang 51,
trang 81).
- Vua Thánh Tông trị v́ từ
24/2/1258 đến 22/10/1278, suốt thời gian này đă
không có một trận chiến nào với quân Mông-cổ (do
đích thân ngài chỉ huy); về việc dâng phần gạo
xấu là xảy ra với vua Nhân Tông (tức là thái tử của
vua Thánh Tông trong cuộc kháng Nguyên lần thứ nh́ 1258).
Chúng tôi đă xem lại trong Toàn Thư, Cương Mục
phần Thánh Tông Hoàng Đế th́ không thấy có đoạn
nào tương tự như trên.
* Việt Sử Mông Học của
Ngô Đức Dung Việt Sử Mông Học- Từ Hồng
Bàng đến 1945, nhà xuất bản văn học Hà Nội
xuất bản năm 1998, Việt Nam ghi ở trang 149: «Đến
đời Hốt-Tất-Liệt, Thế Tổ của nhà
Nguyên diệt nhà Tống. Năm Nguyên Phong đời Trần
Thái Tôn quân Nguyên sang xâm lược, đóng quân ở bờ
tả ngạn sông Thao. Thái Tôn tự làm tướng đánh
giặc. Quân Nguyên phải rút. Đến năm đầu
Thiệu Bảo đời Nhân Tôn lại sai sứ đ̣i hỏi
6 việc năm trước. Vua muốn hàng hỏi Trần
Quốc Tuấn, Trần Quốc Tuấn tâu: «Nếu Bệ
hạ muốn hàng trước hết hăy chém đầu
tôi» vua mới quyết chí chống giặc…». Ngoài ra ở
các trang 147-157, tác giả Ngô Đức Dung đă tŕnh bày lẫn
lộn giữa vua Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông; đồng
thời các cuộc kháng Nguyên lần
thứ I, II, III.
Đại Việt Sử Kư Tiền
Biên được khắc in năm Canh Thân, niên hiệu Cảnh
Thịnh thứ 8(1800), biên soạn
bởi các sử gia Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên (đời
Trần), Lê Tung, Ngô Sĩ Liên, Ngô Thời Sĩ và được
Ngô Thời Nhậm tu đính, ở trang 364 chép sự kiện
vua Trần Nhân Tông ngự thuyền nhẹ sang lộ Hải
Đông để gặp Hưng Đạo Vương,
nhưng ở đây không có ghi ḍng nào Đức Hoàng đế
Trần ngỏ ư muốn «đầu hàng» quân Mông-cổ
với Hưng Đạo Vương.
Đồng
thời các quyển Đại Việt Sử Kư Toàn Thư
do các sử thần Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ
Liên soạn năm 1697; Khâm Định Việt Sử Thông
Giám Cương Mục được soạn bởi Quốc
Sử Quán Triều Nguyễn (1856-1881); An-Nam Chí-Lược
của Lê Tắc soạn năm 1335 được Viện
Đại Học Huế dịch và xuất bản năm
1961 đều không có ghi sự kiện Hoàng đế Trần
Nhân-Tông muốn «đầu hàng» quân Mông-cổ khi hội
họp với Hưng-Đạo-Vương ở Hải-Đông;
và không hiểu v́ nguyên cớ ǵ các tác giả Phạm Văn
Sơn quyển Việt Sử Toàn Thư, Lê Thành Khôi quyển Histoire du Viet
Nam des origines à 1858, tác giả Ư Dân với bài Khí Phách Của
Vị Tướng Tại Mặt Trận do Bán Nguyệt
San Ư Dân xuất bản, Khái Hưng quyển Tiêu Sơn Tráng
Sĩ, Việt Sử Mông Học của Ngô Đức Dung lại
gán cho Đức Hoàng đế Trần Nhân-Tông là người
muốn đầu hàng quân giặc, đây là một sự
kiện không bao giờ có trong
lịch sử, và đó là hư cấu! Riêng tác giả Hoàng
Cơ Thụy quyển Việt Sử Khảo Luận tập
2, các tác giả Trương Hữu Quưnh, Phan Đại
Doăn, Nguyễn Cảnh Minh đồng biên soạn Đại
Cương Lịch Sử Việt Nam tập 1, th́ lại
nhầm lẫn tên người, địa điểm cũng
như sự kiện. V́ sự học hỏi của mọi
tầng lớp người, chúng tôi mạn phép ghi ra đây
để chúng ta có thể rút được một vài kinh
nghiệm nhỏ (nhưng rất quan trọng) trong việc
biên soạn cũng như nghiên cứu lịch sử nước
nhà.
Rất
mong các bậc cao minh vui ḷng chỉ giáo. Đa tạ.
(*) Trần Nhật Huyên tức Hoàng đế Trần
Nhân Tông. Khi trao đổi văn thư ngoại giao với
kẻ thù (Mông-cổ), Đức Hoàng đế Trần
đă đổi tên của ḿnh để giữ ǵn thể
thống quốc gia. Hầu hết các vị vua thời nhà
Trần đều áp dụng chính sách này cả.
(**) Tham khảo Toàn Tập
Trần Nhân Tông, giáo sư tiến sĩ Lê Mạnh Thát, Học
Viện Phật Học Việt Nam xuất bản năm
2000 tại Việt Nam. (www.thuvienhoasen.org/u-nhantong-00.html)
(***) Trích Hoàng đế Kim Phật do Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc
biên khảo (chưa xuất bản).
Trúc Lâm Phúc
Lộc
-------------------------
Góp ư của người đọc:Lichsuvietnam@yahoogroups.com :23/11/2003"qttt" <qttt@yahoo.com>Cám ơn anh Trúc Lâm! bài viết rất hay! hy vọng sẽ được đọc nhiều bài khác của anh. QTTT Hoasen-1@yahoogroups.com :
1/11/2003
vuong van <vuongvanvan@yahoọca>
Thưa D/H .
Bài viết của D/H chứng tỏ đă
bỏ công nhiều, có vài nhận xét có giá trị Ddọc lịch
sử VN thật "mệt" v́ nhiều tác giả mới
sau này trừ g/s LMThát viết mà không chịu ghi chú tài liệu
tham khảo để người đọc có thể tra
cứu. Hơn nưă nhiều chi tiết viết không đồng
nhất, ngày tháng, tên tuổi địa phương khác biệt...v.v.
Chiến tranh kháng Mông (1285) diễn ra hết sức phức
tạp mà sách sử rất hiếm vẻ ra 1 bản đồ
chỉ dẫn.
Tôi hoàn toàn đồng ư với D/H rằng
chuyện vua TNT có ư "đầu hàng" sau khi bị thua
trận Nội Bàng là một xuyên tạc lịch sử.
a) Cũng
như D/H tŕnh bày những bộ sử có giá trị viết
từ 2, 3 thế kỷ trước như Việt Sử
Tân Biên (1775 - Ngô thời Sỹ); Khâm Ddịnh Việt Sử
Thông Giám Cương Mục (1856-1881 - Soản Giả: Quốc
sử qúan triều Nguyễn ) ; Đại Việt Sử
Kư Toàn thư ( 1697 của Lê v Hưu, Phan thu Tiên & Ngô sĩ
Liên ). - Chi tiết vua TNT có "ư định đầu
hàng" chỉ có trong bộ sử viết cách đây không
lâu như: Việt Sử Toàn
Thư của Phạm Kim
Sơn viết cho kiều bào Việt ở Nhật, VN sử
lược của Trần trọng Kim (trong khoảng1930-1950)
. Tôi không biết hai sử gia này dựa vào đâu để
viết chi tiết quan trọng
đó ... đúng thật là nhức
đầu :)). C̣n ông Khái Hưng không cần phải bàn v́
ông ta không phải là sử gia hơn nữa cuốn Tiêu
Sơn Tráng Sĩ chỉ là tiểu thuyết. Mấy tạp
chí sau có lẽ dựa vào cuốn VNSL của TTK.
b) Theo sự
phân tích của tôi: Vua tôi nhà Trần chuẫn bị cuộc
chiến chông quân Nguyên khá chu đáo về mặt chính trị
(Hội Nghi Diên Hồng) cũng như quân sự (Hội
nghị B́nh Than). Hội nghị quân sự B́nh Than (1282)
đă quyết định chiến lược chống
Nguyên rơ ràng. Sau khi pḥng tuyến cự địch ở Lạng
Sơn thất thủ - và trận Nội Bài bị tổn
thất nặng THDdạo phải rút về Vạn Kiếp
- Ddích thân vua TNT phải vôi vả dùng thuyền nhẹ quên
ăn ra Hải Ddông họp gấp với THDdạo - Chính
cuộc họp này 2 người đă thay đổi chiến
lược 1 cách cấp tốc - từ thế đối
địch qua thế tránh địch để bảo
toàn lực lươ.ng. Việc thay đổi chiến
lược không thể không gây hoang mang. Ddể giử vững tinh thần chiến sĩ
vua đề thơ ở thuyền rằng "
Cối Kê cựu sự quân tu kư -
Hoan, Diễn do tồn thập vạn binh". - Cối Kê
việc cũ ông nên nhớ Hoan Ái vẫn c̣n 10 vạn quân (
Ref Việt Sử Tân Biên ) để chuẩn bị tinh thần
cho việc rút lui chiến lược đưa gần 20 vạn
quân vào Thanh Hoá khoảng 6 tháng sau . Như vậy rơ ràng vua ở
thế chủ chiến và có chiếc lược cụ thể,
chứ không phải chủ hoà mà có "ư định đầu
hàng. Tôi cho chuyện vua có ư định đầu hàng là một
sai lầm nếu không muốn
nói là xuyên tạc lịch sử.
Kính
VVVV.
Trả lời 01/11/2003
Thưa đạo hữu Vuong Van,
Đạo hữu nhận xét rất chính
xác. Khởi đầu Vua Trần Nhân Tông cùng Hưng Đạo
Vương chủ trương pḥng thủ như thời
Lư Thường Kiệt phá Tống. Tuy nhiên chủ
trương này bị thất bại nặng nề trước
đạo quân kỵ mă chuyên nghiệp của Mông-cổ.
Đó là lư do đưa tới việc thất trận ở
tuyến Nội Bàng, và cuộc họp ở Hải Đông
giữa hai ngài đưa tới sự kiện thay đổi
chiến lược một cách toàn diện. Sự thay
đổi đó có thể tóm tắt 3 điểm: Rút lui,
pḥng thủ và phản công chiến lược. Nhờ sự
thay đổi một cách kịp thời như thếquân
đội nhà Trần dưới sự lănh đạo của
vua Trần Nhân Tông đă dần dần chuyển từ bại
sang thủ và từ thủ sang công. Cuối cùng dẫn
đến chiến thắng sau cùng.
Tôi có gởi lên diễn đàn hoasen-1 bài viết
Hoàng Đế Kim Phật và Chiến Thắng Sông Bạch
Đằng để làm sáng tỏ thêm về chiến thắng
sông ở sông Bạch Đằng. Nhân đây tôi gởi thêm
một lần nữa để đạo hữu tường
lăm.
Kính
Trúc Lâm Lê An B́nh
--------------------------------------
Góp ư của người đọc:
http://www.viethoc.com:
09-15-03 11:42
Author: Lê Bắc (---.dsl.sntc01.pacbell.net)
Trong các sách sử xưa cũng có nói đấy
chứ, như:
* Đại Việt Sử Kư Toàn Thư
(Ngô Sĩ Liên, v.v... 1697,): (Bản Kỷ, Quyển VI, tờ
11a)
... Thánh Tông vờ bảo Quốc Tuấn rằng:
"Thế giặc như vậy, ta phải hàng thôi". Quốc
Tuấn trả lời: "[Bệ hạ] chém đầu
tôi trước rồi hăy hàng".
* Việt Sử Tiêu Án (Ngô Th́ Sĩ, 1775)
Lúc bấy giờ quân Nguyên có thế rất
mạnh, vua Thánh Tôn hỏi thử Quốc Tuấn: "hay
là ta hăy đầu hàng đi ?", ông tâu: "Trước hết
chém đầu thần đă, rồi hăy đầu
hàng".
* Đại
Việt Sử Kư Tiền Biên (Ngô Th́ Sĩ, Ngô Th́ Nhậm ..
1800): (Bản Kỷ, Quyển VI, tờ 11a)
Trước
đây, vào cuối năm Thiên Bảo, quân Nguyên sang xâm lược,
thế giặc rất hung hăn, vua Thánh Tông thử hỏi
để xem ư của Quốc Tuấn "Thế giặc
như vậy ta nên đầu hàng". Quốc Tuấn trả
lời: "Trước hết hăy đem chém đầu thần
rồi sau sẽ đầu hàng".
* Khâm
Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (Quốc
sử quán triều Nguyễn, 1856-1881): (Chính Biên, Quyển
VIII, 33)
Vào khoảng
đầu niên hiệu Thiệu Bảo, quân Nguyên rầm rộ
kéo sang, khí thế rất hung hăn. Vua Thái Tông bảo rằng:
"Lực lượng của giặc mạnh như thế,
có lẽ ta hăy tạm xin hàng". Quốc Tuấn nói:
"Trước hết hăy chặt đầu tôi đă, rồi
sẽ hàng".
Trông vào
gương nhà Lư mất ngôi v́ không lo xa, cho nên nhà Trần có
tục cha nhường ngôi cho con để làm thượng
hoàng, và cùng con trông coi việc nước, cả hai đều
được gọi là vua (và dùng tên để biết vua
nào)
Ngô Thời
Sĩ có bàn trong Đại Việt Sử Kư Toàn Thư (Bản
Kỷ, Quyển V, tờ 24a):
Sử thần
Ngô Sĩ Liên nói: Từ sau khi Hạ Vũ truyền ngôi cho
con th́ cha chết con nối, anh chết em thay, đă thành
phép thường măi măi.
Gia pháp họ
Trần lại khác thế: con đă lớn th́ cho nối
ngôi chính, c̣n cha lui ở cung Thánh Từ, xưng là Thượng
Hoàng, cùng trông coi chính sự. Thực ra truyền ngôi chỉ
để yên việc sau, pḥng lúc vội vàng, chứ mọi
việc đều do Thượng hoàng quyết định.
Vua kế vị không khác ǵ hoàng thái tử cả. ....
09-15-03
13:27
Author: lê
đông giang (---.dip0.t-ipconnect.de)
Tôi đọc bài nhưng không hiểu được ư của
bạn An B́nh về hành động đầu hàng của
vua Trần Nhân tôn hoặc Thánh tôn (tùy theo tài liệu). H́nh
như ư bạn cho rằng vua Trần Nhân tôn (tức Đức
Điều Ngự Giác Hoàng) sẽ không bao giờ hành động
như vậy mà là người sẽ kiên quyết chiến
đấu chống giặc Mông đến cùng.
Theo tôi nghĩ nếu vua Trần Nhân tôn có nói với Hưng
Đạo vương câu nói :«Thế giặc lớn
như vậy chống với nó e dân sự sẽ tàn hại
hay là hàng chúng nó để cứu lấy dân?» cũng không
đi xa lắm về bản tính của Ngàị Từ bé
ngài đă thấm nhuần Phật pháp th́ cảnh máu đổ
thịt rơi, dân chúng cơ cực chắc chắn là tác
động mănh liệt hơn là chiếc ngai vàng. Vă lại
hành động "HÀNG" sau khi đă phát động chiến
tranh chống Mông Cổ không phải là hành động có lợi
cho một vị vua, huống chi Mông Cổ c̣n mang theo Trần
Di Ái chuẩn bị cho việc chiếm nước ta .
Nghĩ cho kỹ, câu nói trên có hai tác động .
1. Hàng có nghĩa là chấp nhận thân phận tù đày,
hành hạ của kẻ địch để cứu lấy
muôn dân .Hành động này so với hành động "Chiến"
chắc chắn là khó hơn trăm lần .Cho dù là Thánh tông
hay Nhân tông nói câu này th́ "hàng" đều dẫn đến
kết quả là cả vua Thánh tông và Nhân tông đều phải
mang thân phận tù đày biệt xứ, Chiến th́ kết
quả chưa biết như thế nào, nhưng nếu có
chết th́ cũng chết dân, chết lính .Hành động
"hàng" này không mang tính chất hèn nhát mà mang tính chất
của cái "dũng" và cái "nhân" của một
bậc Thánh .
2. Đức Hưng Đạo vương là cha vợ của
vua Nhân tông, chắc chắn cả hai vua đều biết
tấm ḷng son của ngài đối với đất
nước .Dễ ǵ ngài để rễ và con gái phải
mang thân phận lưu đày biệt xứ và ngài c̣n phải
mang tiếng "hàng thần lơ láo" .Đâu phải lần
thứ nhất ngài đụng quân Mông .30 năm trước
thời Nguyên Phong ngài đă từng đánh thắng địch
mà, huống chi chúng ta đă có hơn 30 năm chuẩn bị
cho trận chiến này th́ hai vua cũng thừa biết câu
trả lời của ngài .V́ thế câu hỏi mang tính chất
tâm lư nhằm mục đích kích thích ḷng quân sĩ nhiều
hơn là muốn hàng thật .
Đối với 1, th́ câu nói có thể xuất phát từ
Nhân tôn, bởi v́ cuộc đời của ngài, quả thật
ngoài tấm ḷng thương yêu bá tánh vô bờ bến chẳng
có chút ǵ luyến ái danh vọng, quyền lực ..
Đối với 2, th́ câu nói có thể xuất phát từ
Thánh tôn .
Cho dù xuất phát từ ai đi nữa th́ chử
"HÀNG" này quả thật không giống như chử
đầu hàng b́nh thường mà ta thường gặp .
Chút thiển ư .
09-17-03
10:15
Author: Lê
Bắc (---.dsl.sntc01.pacbell.net)
Tôi chỉ trích dẫn từ sách ra
để chỉ cho người viết thấy là đă
chưa đọc kỹ các sách cổ sử:
* >>Chúng tôi đă xem lại trong Toàn Thư, Cương
Mục phần Thánh Tông Hoàng Đế th́ không thấy có
đoạn nào tương tự như trên.
Sự kiện Vua Thánh Tông hỏi ư Trần Quốc Tuấn
không có chép trong phần vua Thánh Tông hay vua Nhân Tông, cho nên t́m
không ra là phải, v́ sự kiện này chép vào phần viết
về Trần Quốc Tuấn khi ông mất (1300) thuộc
kỷ của vua Anh Tông.
* >>Ở đây tác giả Hoàng Cơ Thụy đă chép
nhầm một số sự kiện sau đây: 1/ Vua Trần
Thánh Tông trị v́ từ 24/2/1258 đến 22/10/1278
Người viết cho rằng phải là Nhân Tông mới
đúng, v́ thời điểm đó là triều đại
của vua Nhân Tông, cho nên Hoàng Cơ Thụy đă chép lầm
là vua Thánh Tông.
Hoàng Cơ Thụy, Trương Hữu Quưnh, Phan Đại
Doăn, Nguyễn Cảnh Minh không có lẫn lộn về nhân vật,
v́ triều Trần cả vua và thượng hoàng đều
coi việc nước, v́ thế sách dùng chữ "vua
Thánh Tông" là nói về Thánh Tông, chứ không phải Nhân
Tông, đă hỏi ư Trần Quốc Tuấn. Hơn nữa,
đoạn sách nói về sự kiện ấy thuộc về
kỷ Anh Tông, nên khi nói về các vua trước, phải
nói rơ hiệu vua nào. (Nếu sách chỉ dùng chữ
"vua" không thôi th́ ta có thể hiểu là đang nói về
vua của kỷ đó)
Đồng ư là các sách sử của ta lẫn lộn khá nhiều,
nhưng trong trường hợp này th́ các sách sử xưa
nhất như ĐVSKTT, VSTA, ĐVSKTB chép rất rơ là Thánh
Tông đă hỏi ư Trần Quốc Tuấn. Riêng bộ sử
KĐVSTGCM chép là "Thái Tông" th́ rơ ràng là sai, v́ Thái Tông Trần
Cảnh đă mất từ năm 1277, cũng lưu ư là cũng
có thể bản dịch sai, nên cần phải xem lại bản
chữ Hán dùng chữ "Thái" hay "Thánh".
Sai lầm về thời gian cũng có, quân Nguyên kéo sang vào
cuối năm Thiệu Bảo, sách ĐVSKTB th́ chép là
"cuối năm Thiên Bảo", rơ ràng sai v́ không có
năm "Thiên Bảo", cũng có thể do lỗi
người dịch, nên cần phải xem lại bản
chữ Hán. Sách KĐVSTGCM chép là "đầu niên hiệu
Thiệu Bảo", nhưng lúc đó (1279) th́ quân Nguyên
chưa kéo sang.
09-17-03
14:41
Author: Nguỵ-yến (207.243.197.---)
Date:
Trong trường-hợp Thái/Thánh và Thiệu/Thiên lẫn lộn
chúng tôi nghi rằng đây là v́ thợ xếp chữ Quốc-ngữ
xếp sai. Nếu là chữ Nho th́ khó lầm v́ tự-dạng
Thái/Thánh và Thiệu/Thiên khác nhau nhiều trong khi chữ Quốc-ngữ
th́ trường-hợp u/n lẫn lộn th́ cũng dễ
hiểu. Vài lời lạm-bàn.
----------------------------------
Bài viết
được đăng tải ở các trang nhà:
http://www.nsvietnam.com/online/sangtac/j18-nhunghucau.html