Trích tạp Chí Cách Mạng Số 40 Của Đại Việt Cách Mạng Đảng

www.daiviet.org

 

Người Lính Nguyễn Xuân Phúc

 

Ngọc Thủy

 

"Hạc vàng đi mất từ xưa

 

Ngh́n năm mây trắng bây giờ c̣n bay..."

 

(thơ Thôi Hiệu-Tản Đà)

 

            Thêm một tháng Tư nữa đă về. Nh́n lại, hai mươi chín năm dằng dặc đă trôi qua, thời gian không xóa nḥa được niềm đau thương Non Nước với bao nỗi bi hận trong ḷng những người con dân đất Việt phải rời xa Tổ Quốc bao ngày...

 

            Ôi! hai mươi chín năm qua vẫn mang theo những hoài băo khát khao của những người dân Việt ở hải ngoại: nỗ lực đấu tranh để dành lại Tự Do-Nhân Quyền cho người dân trong nước sớm được vươn cao trong đời sống ấm no - hạnh phúc - mạnh giàu.

 

Xé lịch hoài thôi, sao chẳng rụng

 

Một ngày buồn bă tháng Tư Đen?

 

Bao nhiêu năm vẫn ngờ cơn mộng

 

Nỗi Đau... c̣n nặng, chẳng sao quên!

 

            n.t.

 

            Mỗi năm đến một ngày này tháng Tư, ḷng ai không khỏi ngậm ngùi khi nhớ đến những người trai thời chiến cuộc năm xưa, những người đă hy sinh xuơng máu đắp bồi cho bờ cơi Việt Nam, đă liều chết quên thân ḿnh để chiến đấu cho chính nghĩa Tự Do của miền Nam thân yêu. Những máu xương, tuổi trẻ ấy đă một thời là dũng khí vang rền khắp bốn phương, chấp nhận những nhọc nhằn gian khổ để giữ ǵn mạch đất sống yên vui cho bao người dân Viê.t. Nay, dẫu phần đất Tự Do đă bị cưỡng chiếm bởi những mưu mô thâm độc, bất chấp ḷng nhân, dày xéo lên cả mạng sống những người dân lành vô tội, hai mươi chín năm qua vẫn bị lầm than dưới chế độ cộng sản nghiệt ngă bạo tàn.

 

C̣n nghe tiếng nhạc quân hành

 

Vang ra từ máy thu thanh, cũng mừng1

 

Bao giờ sóng lặng biển Đông

 

Người đi trở lại với gịng sông xưả

 

Bao giờ ḷng đẹp như mơ

 

Quê Hương thấy thuở nắng mưa thuận ḥả

 

Nói mà... lệ muốn tuôn ra

 

Việt Nam thống nhất, người xa chưa về...

 

Bước chân Lính rộn ràng khuya

 

Ḷng Dân Tộc vẫn tư bề vắng hiu!

 

            n.t.

 

            Quê hương tan vỡ, đất nước điêu linh, ḷng dân xao xác. Tổ Quốc c̣n ǵ với những thương đau. Đă hao hụt, đổ vỡ và mất mát quá nhiều trên mảnh đất thân yêu. Nhưng dũng khí ngày nào của những người trai nước Việt được hun đúc bằng máu xương tuổ́ trẻ ấy vẫn không hề biến mất mà c̣n vang vọng đến thiên thu: hào khí của những người chiến sĩ Việt Nam Cộng Ḥa vẫn rầm rập như tiếng chân đi dập dồn mang theo trái tim yêu thương đồng bào, tổ quốc, lư tưởng tự do trên vạn nẻo đường đất nước thân yêu!

 

            Ôi, hai mươi chín năm trôi qua rồi đấy ư, kể từ ngày đất nước tang thương, nhuốm lệ cả một bầu trời đau thương... sao vẫn c̣n thương đau măi thế?!

 

Bây giờ đă hết thời chinh chiến

 

Nghe khúc quân hành bỗng nhớ xưa

 

Ai đó bỏ thân ngoài chiến địa

 

Ngh́n Thu c̣n ấm những bài Thơ!

 

            n.t.

 

            Đó là những người trai đất Việt, những người đă xông pha vào nơi gió cát trận tiền và đă ra đi theo hồn thiêng sông núi từ những ngày khói lửa binh đaọ

 

Tháng Tư! c̣n tháng đầu năm

 

Buồn thay Sử Việt lại nằm cuối chương

 

Trải qua mấy nhịp đoạn trường

 

Mới hay ruột héo, tim ṃn bể dâu!

 

Tháng Tư! tháng của ve sầu

 

Của mầu phượng vỹ, của mầu máu xương

 

Những người chết cho Quê Hương

 

Nằm đâu bờ bụi dọc đường Bắc Nam?

Tháng Tư! chiều nhạt khói lam

 

Con sông rộng mấy chưa bằng nỗi đau!

 

Mẹ già nước mắt không lau

 

Ḥa B́nh mà để lệ trào đêm đêm!

 

Tháng Tư! tháng anh t́m em

 

Tháng con lạc mẹ, cha quên đường về

 

Đất bằng bỗng rẽ sơn khê

 

Vầng trăng vàng vọt nửa khuya chờ người

 

Tháng Tư! tháng nói không lời

 

Khóc không hết khổ, mà cười với aỉ

 

Trên trời cờ cũ thôi bay

 

Dưới sâu sông biển như đầy khói sương...

 

            n.t.

 

            Ngày 30 tháng Tư và ngày Quân Lực 19 tháng Sáu mỗi năm, xin được chân thành tưởng nhớ và Tri Ân đến tất cả những người chiến sĩ Việt Nam Cộng Ḥa, những người đang sống c̣n nơi góc bể chân trời khắp bốn phương hoặc những người đă nằm sâu trong ḷng đất Mẹ năm xưạ

 

Tháng sáu có ngày Quân Lực

 

Nhớ sao người Lính Cộng Ḥa

 

H́nh ảnh anh hùng chưa mất

 

Mà đâu? đâu nữa Sơn Hà?

 

Tháng sáu nhớ ngày Quân Lực

 

Người đi xa nước ngậm ngùi

 

Mẹ già nhắc cha rồi khóc

 

Thương cha 'cải tạo' thây vùi!

 

 

Tháng sáu nhớ ngày Quân Lực

 

Những người tha hương cúi đầu

 

Bàn thờ phủ cờ Tổ Quốc

 

Thương hoài những kẻ Thiên Thu!

 

            n.t.

 

            Mỗi lần đọc lại bài thơ Anh Hùng Vô Danh của thi sĩ Đằng Phương tức giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, tôi không thể ngăn được gịng nước mắt trong cảm xúc nghẹn ngào. Bởi sự hy sinh của họ cao cả quá.

 

Họ là những anh hùng không tên tuổi

 

Sống âm thầm trong bóng tối mông mênh

 

Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh

 

Nhưng can đảm và tận t́nh giúp nước

 

Họ là kẻ tự ngh́n muôn thuở trước

 

Đă phá rừng, xẻ núi, lấp rừng sâu

 

Và làm cho những đất cát hoang vu

 

Biến thành một giải sơn hà gấm vóc...

 

Họ là những anh hùng không tên tuổi

 

Trong loạn ly như giữa lúc thanh b́nh

 

Bền một ḷng dũng cảm chí hy sinh

 

Dâng đất nước cả cuộc đời trong sạch

 

Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách

 

Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên

 

Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên

 

Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật

 

Nhưng máu họ đă len vào mạch đất

 

Thịt cùng xương trộn lẫn vớ́ non sông

 

Và anh hồn chung với tấm t́nh trung

 

Đă ḥa hợp làm linh hồn giống Việt

 

            (Đằng Phương)

 

            Trong số hằng vạn người trai anh hùng đất Việt không sao kể xiết được, có những Lê Hằng Minh, Trần Thế Vinh, Nguyễn Cao Hùng, Nguyễn Du, Lưu Thế Kiệt, Đỗ Hữu Tùng, Nguyễn Xuân Phúc.v.v...

 

Quốc Gia hưng vong

 

Thất phu hữu trách

 

     (Tục ngữ)

 

            Từ khi c̣n cắp sách dưới mái trường Nguyễn Trăi ở Hà Nội, cậu học tṛ Nguyễn Xuân Phúc đă sớm hiểu được những sự đau thương và kinh hoàng của cuộc chiến tranh đang diễn ra càng lúc càng khốc liệt vào những thời điểm sôi bỏng (1945-1954). Sống và lớn lên trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ḷng ai không khỏi sục sôi trước những chủ tâm cai trị của ngoại bang. Hơn nữa, sự tranh đấu, hy sinh, ái quốc của các nhà chí sĩ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh.v.v... là tấm gương sáng chiếu rọi vào tâm hồn, nuôi dưỡng thêm những hoài băo, khát khao ḷng yêu nước của các thanh niên thời đại ấy.

 

            Những ngày khói lửa trong giai đoạn chiến tranh bấy giờ kéo dài cho đến khi Hiệp định Genève được kư kết (ngày 20 tháng 7 năm 1954), chia đôi đất nước hai miền Nam & Bắc, tách rời từ đấỵ

 

            Theo làn sóng hằng triệu người yêu chuộng Tự Do, trong đó có gia đ́nh cậu học tṛ Nguyễn Xuân Phúc đă quyết định rời bỏ tất cả cơ ngơi, ngược gịng vĩ tuyến 17 để vào Nam.

 

            Lúc đó không c̣n là chiến tranh với ngoại xâm nữa mà là cuộc chiến giữa hai miền Nam-Bắc với hai chủ thể Quốc Gia và Cộng Sản. Trong khi miền Nam với chính thể Việt Nam Cộng Ḥa đang cố gắng kiến tạo đời sống người dân được ấm no thịnh vượng, nỗ lực xây dựng đất nước tới chỗ phát triển phú cường th́ cộng sản Bắc Việt xiết chặt đời sống dân chúng trong sự kềm kẹp hà khắc, lén lút vi phạm hiệp định, bất chấp đời sống an dân bằng những thủ đoạn dă tâm và đê hèn với mục tiêu xâm chiếm luôn lănh thổ miền Nam. Trước những âm mưu tiếp tục bạo ngược, cố t́nh gây cảnh tang thương cho dân lành vô tội, khiến núi sông cũng phải chuyển ḿnh đau lên tiếng giục. Lớp lớp người trai đă nối bước lên đường theo tiếng gọi non sông. Bút nghiên đành gác lại hẹn ngày về khi đất nước yên vui, bởi quân tham tàn c̣n nhiễu nhương bờ cơi, chí làm trai sao có thể lặng im.

 

            Dù thân phụ đang là công chức cao cấp, lại là học sinh khá với những năm cuối trung học Chu Văn An, có đủ điều kiện đi du học hoặc tiếp tục việc học hành lên cao. Nhưng với hoài băo lư tưởng ấp ủ từ lâu, Nguyễn Xuân Phúc đă cùng với người em trai kế là Nguyễn Phú Thọ quyết định ghi danh vào trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam để thỏa chí tang bồng, đáp đền ân nợ Núi Sông. Gia nhập khóa 16 Vơ Bị vào tháng 11 năm 1959, được đào tạo thêm kiến thức và nhân cách của một sĩ quan chỉ huy tương lai bằng kỷ luật rất nghiêm nhặt. Ngôi trường Mẹ đón nhận những người trai tám hướng về đây hun đúc chí can trường, tôi luyện thành những người chiến sĩ hùng anh dũng cảm, sẳn sàng phục vụ cho đồng bào-tổ quốc thân yêu. Từ những ngày đầu nhập khoá với tất cả sự nao nức sớm được thi hành nghĩa vụ bởi bên ngoài chiến dịch Ấp Chiến Lược do Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm ban hành đang được phát động quy mô rộng răi để bảo vệ an ninh cho đời sống dân lành và kiểm soát chặt chẽ hơn sự xâm nhập của cộng quân đang t́m đủ mọi cách gia tăng.

 

            Những ngày tháng rèn luyện về quân sự, đạo đức và văn hóa ở quân trường Vơ Bị rồi cũng qua nhanh. Những buổi sáng c̣n mờ mịt hơi sương lạnh buốt, che lấp cả mặt hồ Chi Lăng không phân biệt được đâu là làn nước trong đâu là mầu khói trắng sương mù. Đến những buổi trưa lấp lánh hàng thông xanh dưới tia nắng mặt trời, dậy thơm mùi đất cao nguyên như nhựa sống những chàng trai đang căng tràn chí lớn. Cho đến những buổi chiều rơi, từ lưng đồi 1515, ngắm cảnh hoàng hôn tựa tấm voan mềm, mỏng nhẹ như tơ, dần phủ buông xuống khắp núi đồi mầu lam tím nhạt, rừng thông lao xao, đưa hương tỏa ngát nhớ nhung ngập hồn người. Đỉnh Lâm Viên vời vợi ánh trăng khuya, b́nh yên như giấc ngủ của những người khóa sinh sau một ngày tắm đẫm mồ hôi kiên tŕ thao dơ.t. Để ngày mai tới, huy hoàng trong ánh sáng b́nh minh, ngọn núi sừng sửng hơn hai ngàn cao độ ấy sẽ đón nhận những bước chân đi chinh phục của những chàng sinh viên tuổi trẻ. Tuổi trẻ ắp đầy lư tưởng đẹp ngời như câu khẩu hiệu hằng ngày: 'Chúng tôi không t́m an lạc dễ dàng mà chỉ khát khao gió mưa cùng nguy hiểm' với điều tiên quyết để nhận lănh, đó là Trách Nhiệm Danh D -Tổ Quốc của người sinh viên sĩ quan Vơ Bị Đà Lạt.

 

            Trong những ngày dưới mái trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam danh tiếng lẫy lừng khắp Đông Nam Á, Nguyễn Xuân Phúc là một sinh viên sĩ quan ưu tú, luôn giữ ǵn tác phong tốt làm gương cho các khóa đàn em. Khi đảm nhận chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng/Tiểu Đoàn 2 của Liên Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan trông coi bốn đại đội gồm các khóa 16, 17, 18, anh đă chứng tỏ được bản lĩnh của người chỉ huy hấp thụ được mọi mặt về văn hoá và đạo đức, lúc nào cũng nêu cao tinh thần tự giác và kỷ luật nghiêm minh. Với vóc dáng tầm thước, nhưng các bạn sinh viên sĩ quan đều nhớ tiếng nói của anh rất hùng hồn mạnh mẽ khi ra lệnh, giọng dơng dạc vững vàng khi hô to các khẩu hiệu trong mỗi lần tập huấn. Ngoài tác phong quân kỷ kể trên, Nguyễn Xuân Phúc c̣n được các anh em thương mến ở đức tính ḥa nhă, tận t́nh hướng dẫn, sẳn sàng chia xẻ cùng các sinh viên khóa sinh trong t́nh huynh đệ chi binh. Trong những lần các khóa đàn em phải ứng chiến, cắm trại, Nguyễn Xuân Phúc cùng ở lại chia xẻ v́ anh không muốn hưởng riêng đặc quyền được miễn của một SVSQ cán bộ. Đó là những nét chính mà phong cách bên ngoài của anh lúc nào cũng biểu hiện là một cán bộ sĩ quan gương mẫu, từ quân phục thẳng nếp, đai nịt gọn gàng đến dáng điệu đường hoàng chững chạc, cung cách khiêm tốn, thái độ thân thiện vui vẻ, cư xử với trên dưới đều phân minh, tử tế.

 

            Ngày tốt nghiệp, sinh viên sĩ quan Á Khoa Nguyễn Xuân Phúc ra trường Vơ Bị Việt Nam (đậu hạng Ưu về văn hóa và quân sự) với cấp bậc Thiếu Úy trong buổi lễ măn khoá vào ngày 22 tháng 12 năm 1962. Từ giă ngôi trường Mẹ thân yêu nằm bề thế rộng đẹp trên ngọn đồi 1515 với rừng thông xanh ngát quanh năm, ôm quyện làn sương trắng mỏng phủ mờ thơ mộng mà anh đă gắn bó với hơn ba năm dài học tập với bao niềm lưu luyến. Từ đây anh sẽ là cánh chim tung bay khắp hướng. Mộng sơn hà trị giặc an dân được vung kiếm, vẫy vùng. Chí cả bay cao như ngày nào anh vượt qua được những chông gai hiểm trở của núi rừng, đứng ngạo nghễ trên ngọn núi Lâm Viên (c̣n gọi là núi Lang Biang, cách thành phố Đà Lạt khoảng mười hai cây số về phía Bắc) cao 2163 thước. Từ chiến thắng chinh phục được ngọn núi này đă tạo bước chân những người sinh viên sĩ quan thành chân cứng cho đá mềm trên khắp bốn vùng chiến thuật mai sau.

 

Làm trai cho đáng nên trai

 

Xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài tan

 

            Với ước mộng như lời tiền nhân: 'Làm trai cho đáng nên trai. Xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài tan', Nguyễn Xuân Phúc chọn binh chủng Thủy Quân Lục Chiến và t́nh nguyện xin đi tác chiến, đáp ứng với t́nh h́nh chiến sự đang gia tăng sôi bỏng.

 

            Sau khi về tŕnh diện Bộ Tư Lệnh Liên Đoàn TQLC, đầu năm 1963, thiếu úy Nguyễn Xuân Phúc được thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 2 TQLC đang đóng quân tại Cà Mau-An Xuyên với chiến dịch Sóng T́nh Thương để yểm trợ an ninh cho các khu ấp chiến lược đang được xây dựng, cùng tiếp tay trong sự ngăn chận đường len lỏi của quân du kích, chở vũ khí xâm nhập vào Nam của cộng sản Bắc Việt qua ven biển Cà Mau.

 

            Sau khi tŕnh diện Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 là Đại úy Nguyễn Thành Yên, thiếu úy Nguyễn Xuân Phúc được bổ nhiệm làm Đại đội phó Đại đội 3 dưới quyền của Trung úy Đại độ́ trưởng Nguyễn Năng Bảo.

 

            Đời lính chiến đây đó mười phương, ngày nào anh chỉ nghe nói về những nẻo dường Việt Nam trải dài suốt từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Thế là giờ đây anh đă có mặt ở khắp Cà Mau, Đầm Dơi, Năm Căn.v.v... Ôi quê hương miền Nam trù phú nhưng bởi c̣n nhiễu nhương giặc Cộng nên mảnh đất đầm lầy này c̣n hẻo lánh hoang vu. Hương hoa rừng Tràm, gỗ, than rừng Đước là những tài nguyên hiếm quư vẫn chưa được khai thác tới nơi. Cà Mau nước mặn, rạch, kinh có tôm cá ngập đầy nhưng dân làng c̣n hoang sơ thưa thớt bởi quân cộng c̣n hoạt động khá mạnh ở vùng đất này, dùng địa thế chi chít kinh rạch, rừng cây để làm địa bàn tấn công phá hoại các đồn bót, ngăn chận sự củng cố quân sự, phát triển cải cách đồng ruộng nơi đây của chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa.

 

            Như âm mưu phá hoại đă dự định, tối ngày 9/9/1963 Việt cộng kéo quân bất ngờ đánh úp vào chi khu Cái Nước, gây tổn thất khá nặng nề cho chi khu này. Và cũng ngay trong đêm đó, Tiểu đoàn U Minh của Việt cộng tiếp tục dùng xuồng và đường bộ tiến thẳng vào chi khu Đầm Dơi để tấn công (Cái Nước và Đầm Dơi cách nhau khoảng gần hai mươi cây số đường chim bay). Trong vài giờ đồng hồ, địch quân đă chiếm được một nửa chi khu, quận trưởng Dầm Dơi bị tử thương, những người lính Địa phương quân đang cố gắng chống trả cố giữ nửa phần đất c̣n la.i. Tiểu Đoàn 2/TQLC liền được Bộ Tư Lệnh Hành Quân Quân Đoàn IV đặt căn cứ tại An Xuyên do Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao điều động có mặt để giải vây. Bằng trực thăng H-21, các đại đội của Tiểu đoàn 2/TQLC đổ quân xuống cách khoảng từng đợt một:

 

            - Đại Đội 1 do Trung Úy Phạm Nhă chỉ huy đổ xuống gần quận.

 

            - Bộ chỉ huy Tiểu Đoàn do Đại Úy Nguyễn Thành Yên và Đại Đội Trưởng Tiểu Đoàn 2 là Đại Úy Nguyễn Văn Hay đáp xuống băi Charlie ở địa điểm kế.

 

            - Đại Đội 4 do Trung Úy Ngô Văn Định chỉ huy đáp xuống băi Alpha cách quận ba cây số về phía đông nam.

 

            - Đại đội 3 của Trung Úy Nguyễn Năng Bảo (Đại Đội Trưởng) và Thiếu Úy Nguyễn Xuân Phúc (Đại Đội Phó) đổ quân xuống ngay sát bờ sông là lực lượng Việt Cộng đang tập trung.

 

            Nguyễn Xuân Phúc và các anh em đồng đội được trực thăng vận xuống cánh đồng ruộng cằn cỗi như mầu cỏ cháy. Nơi đây thiếu mầu mỡ ph́ nhiêu nhưng không thiếu những hố đạn bom vẫn ngày đêm cày xéo. Buổi chiều chưa tắt nắng nhưng bầu trời như nhuốm mầu u uất thê lương. Dân làng đă bỏ chạy mong lánh nạn giao tranh. Họ trốn chui trốn nhủi ở những bụi bờ, khóc không thành tiếng, sợ hăi đến quên cả cầu đến Chúa, Phật, Trời mà chẳng biết có qua được cơn lửa đạn này không?! Có sống được về làng th́ cũng hai bàn tay trắng như đă bao lần khổ sở trước. Người thân ruột thịt có khi cũng chẳng c̣n. Nhà cửa, heo, gà, rau cỏ bị cày xới, cháy rụi thiêu tàn hết rồi c̣n đâu. Đời sống quá gian lao đói khổ rồi mà giặc Cộng sao vẫn chẳng buông tha. Chỉ biết đánh, giết, chiếm miễn sao đạt được tham vọng xâm lăng. Đất nước có điêu linh, dân lành có đổ máu đến bao nhiêu họ có xá kể ǵ. Đời dân nghèo sống dở chết dở như thế này cho tới bao giờ...? Thương đau biết mấy cho vừa, quê hương ơi!

 

            Những người lính TQLC của Đại Đội 3 lội trên cánh đồng ruộng ngập nước đến đầu gối, địa thế quá trống trải để lấy tư thế nấp bắn. Địch ở phía bờ sông bên trong đang bắn ra tua tủa. Phi pháo hoả lực yểm trợ cho quân ta lại ở ngoài tầm độ. T́nh thế thật nguy hiểm, dễ trở thành bia đạn nhắm tới nếu không kịp xông vào khóa các ổ bắn của đi.ch. Là lính vừa mới ra trường chưa được bao lâu, lần đầu tiên T/U Nguyễn Xuân Phúc đụng một trận cận chiến toé lửa lại bất lợi như thế này, đại đội chết dễ như chơi. Tính thế nào đây? Bọn giặc kia khát máu quá. Cảnh chết thê thảm của đồng đội, oan ức của người dân như con dao nhọn xoẹt qua ḷng anh. Nỗi căm hận như ánh thép vừa đốt nung lên, mắt anh loé lên những tia sáng như lửa. Nhất định phải đánh cho tan những dă tâm khát máu đê hèn này. Anh phải khởi sự ngay thôi. Những năm được đào tạo về chỉ huy và quân sự cộng thêm sự dũng cảm, bén nhạy, Nguyễn Xuân Phúc đă mau chóng nghĩ ra một chiến thuật chớp nhoáng như tung đi cú đánh thần tốc, tuy có phần liều lĩnh nhưng trước sự sống chết như đường tơ kẻ tóc của đơn vị, anh không ngại ngần là kẻ xung phong vượt qua lửa đạn, quyết tiến chiếm cho được vị thế đổi lật t́nh h́nh trận chiến. Anh luôn là kẻ đi đầu bất cứ trong t́nh huống nào, bởi chỉ có hành động của chính ḿnh mới có thể là câu nói hùng hồn, xác đáng với người nghe. Anh lao nhanh như gió băo khiến những viên đạn như chưa bắn tới đă rơi. Hành động của anh là ngọn lửa truyền đi, cả đại đội như cháy bừng lên sức chiến đấu mănh liệt. Họ cũng lao đi như tên bắn. Giặc đốt phá quê hương, hăm hại dân lành th́ ta đâu thể nương tay. Đánh giặc phải đánh tới cùng. Chốn sa trường há ǵ mũi đạn lằn tên. Giặc c̣n là đồng bào ḿnh c̣n lầm than đau khổ. Phải diệt được giặc nước nhà mới được thái b́nh yên vui. Xung phong. Anh em ơi, xung phong. Tiếng ḥ reo xung phong vang dội dọc cả bờ sông sắp rút nước theo thủy triều đang hạ. Trước khí thế như vũ băo của những người lính Thủy Quân Lục Chiến thuộc Tiểu Đoàn 2, VC kinh hoàng vứt bỏ súng ống, vượt sông tháo chạy qua phía bên kia bờ.

 

            Tiếng súng dần thưa thớt rồi ngưng hẳn. Trời đêm đă dịu đi cơn nóng như đă dịu đi những ṇng đạn lửa xối xả bắn ra từ cả hai bên. Mùi tử khí trên những xác người chưa kịp dấy nồng. Chỉ c̣n lại mùi khét của súng và tiếng reo mừng chiến thắng. Cuộc tấn công của VC đă kết thúc, không chiếm được mục tiêu như đă định. Tiểu Đoàn 2 cũng tổn thất một số binh lính, nhất là Đại Đội 3 đă hy sinh khá nhiều. Nhưng bù lại Tiểu Đoàn 2 đă đán