Nhóm Nghiên Cứu và Phổ Cập Tinh Thần Trúc Lâm Yên Tử

Tấm lòng

Mục đích thành lập nhóm Nghiên cứu nhằm phổ biến tinh thần Hòa quang đồng trần do ngài Điều Ngự Giác Hoàng…(xin mời đọc tiếp) 

 

Văn hóa tộc Việt

Tư tưởng nhân quyền của tộc Việt

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn lấy chí nhân mà thay cường bạo

Khai bút đầu năm Ất dậu 2005...

 

Dòng s

Đức vua Trần Nhân Tông

Chiến thắng Vân Đồn

Chiến thắng sông Bạch Đằng

Những hư cấu liên quan đến các vị vua thời nhà Trần (12)

Chân dung đức Thánh Trần

Vua Trần Nhân Tông-Anh hùng dân tộc kiêm triết gia thi sĩ

Đại Việt sử ký khảo luận (từ thời lập quốc đến thế kỷ 21)

Giới thiệu Việt sử đại cương

Bảo nghĩa hầu Trần Bình Trọng

Quang Trung hoàng đế

Nghiên cứu biên giới Việt Trung 

Mo^.t cuo^'n ngo.c pha? nhie^`u gia' tri. li.ch su+?

Go.i ho^`n Quo^'c To^? ...

 

Dòng s cn đại

Quân sử Việt Nam 

Tìm mo^.t Gandhi cho Vie^.t Nam

Nguo+`i lính Nguye^~n Xuân Phúc

 

Tư tưng Pht giáo

Đường về cõi Phật

Phật

Xuân Di Lặc xuân thái bình

Kính mừng đức Phật đản sanh

Chữ NHÂN

Hành trạng vô úy của Phật giáo Việt Nam

Khánh Đản 745 năm của đức Điều Ngự

Mahatma Gandhi

Tuyên ngôn d-o^.c la^.p cu?a nu+o+'c D-a.i Vie^.t

Pha^.t giáo Vie^.t Nam

Ða.i Vie^.t Chu+ Tôn Ðu+'c hành tra.ng

Trúc Lâm so+ To^?

Nhi. To^? Pháp Loa

Tam To^? Huye^`n Quang

Trúc Lâm d-e^. tu+' To^?

Thie^`n ho.c Vie^.t Nam

Tinh tha^`n dung hóa cu?a tu+ tu+o+?ng Vie^.t vo+'i chu+~ Lòng

Sri Aurobindo

Vô nha^'t d-a.i su+

Tam giáo do^`ng nguyên

Bưu hoa - tin t Vit Nam

Bưu hoa Việt Nam - Tiền tệ Việt Nam

Nhạc Phật giáo

Nhạc phẩm Phật hoàng Trần Nhân Tôn

Nhạc phẩm Hòa kính khiêm tu

Khối 8406

Ṭa Bạch ốc phản đối cộng sản Việt Nam

Báo chí Pháp đăng tin cộng sản Việt Nam đàn áp đối lập

 

  Đức Vua Trần Nhân Tông

-Tinh anh và tổng lực của tộc Việt-

 

 

 

Biên khảo : Trúc Lâm Phúc Lộc

(Quốc Lịch 4882, Phật Lịch 2546, ngày 16 tháng tư năm Quư Mùi tức 16/05/2003 dương lịch)

 

Chương Sáu

Tổng phản công giải phóng quê hương

Cương Mục Chính Biên Quyển VII ghi: Quân Toa Đô từ Chiêm Thành kéo về, cướp bóc ở dọc đường, trèo non xuống dốc ở khoảng châu Ô, châu Lư, châu Hoan, châu Ái, nay về trấn đóng ở Tây Kết. Nhà vua bàn với quần thần rằng: «Quân giặc đi muôn dặm đường để đánh úp nước người ta, v́ không đánh được mà phải bỏ đi, bây giờ nhân lúc chúng mỏi mệt mà đem quân đă nghĩ dưỡng sức của ta để đối địch với quân mỏi mệt của chúng, đánh ngay một trận phủ đầu cho chúng mất hết nhuệ khí, th́ tất nhiên phá được».

Qua lời phán ngắn gọn này ta đă thấy rơ ràng hơn chiến lược chống giặc của ngài từ các trận Thăng Long, B́nh Than, A Lỗ, Đại Hoàng, chỉ là những chiến trường mà quân ta chỉ chận địch, đánh cầm chừng (ngoại trừ trận Phú Tân), tiêu hao nhân vật lực của chúng đồng thời bảo toàn lực lượng của ta rút tất cả về Thiên Trường và Trường Yên chờ đợi dịp tốt để tổng phản công. Và cơ hội đă đến. Tháng 4 ở nước ta nhằm vào mùa hè, thời tiết oi bức, đă làm cho đạo quân xâm lăng của nhà Nguyên thêm mỏi mệt và dă dượi. Đồng thời nhận thấy rằng các trận địa ta đă bày ra vừa đủ để nhốt các đạo quân của giặc vào thế bị vây nên Đức Hoàng đế Trần Nhân Tông đă ban hành lịnh tổng phản công giải phóng quê hương: «..đem quân đă nghĩ dưỡng sức của ta để đối địch với quân mỏi mệt của chúng, đánh ngay một trận phủ đầu cho chúng mất hết nhuệ khí, th́ tất nhiên phá được».

Sau khi lịnh tổng phản công được ban hành bởi Đức Hoàng đế Trần, th́ t́nh h́nh tổng quát được ghi nhận như sau trong:

An-Nam Chí-Lược: «Trong tháng 4, mùa hạ, An nam thừa cơ quân ta đề pḥng chỉnh măng, đánh lấy lại La-thành».

Toàn Thư chép: «Mùa hạ, tháng 4, vua sai bọn Chiêu Thành Vương (khuyết danh), Hoài Vân Hầu Quốc Toản, tướng quân Nguyễn Khoái đem tiệp binh đón đánh giặc ở bến Tây Kết. Quan quân giao chiến với quân Nguyên ở Hàm Tử Quan. Các quân đều có mặt. Riêng quân của Chiêu Văn Vương Nhật Duật có cả người Tống, mặc quần áo Tống, cầm cung tên chiến đấu. Thượng hoàng sợ các quân có thể không phân biệt được, sai người dụ rằng: «Đó là quân Thát của Chiêu Văn đấy, phải nhận kỹ chúng».

Cương Mục: «Quân Toa-Đô từ Chiêm-Thành kéo về, cướp bóc ở dọc đường, trèo non xuống dốc ở khoảng châu Ô, châu Lư, châu Hoan, châu Ái, nay tiến về đóng ở Tây-Kết…nhà vua liền hạ lịnh cho Chiêu Văn Vương Nhật Duật, Chiêu Thành Vương (không rơ tên), Hoài Văn Hầu Quốc Toản và tướng quân Nguyễn Khoái đem quân tinh nhuệ đón đánh. Khi quân ta đến cửa Hàm Tử, hai bên đánh nhau kịch liệt».

Việt Sử Tiêu Án: «Chiêu Văn Vương là Nhật Duật đánh bại quân Nguyên ở Hàm Tử Quan».

Kinh thế đại điển tự lục trong Nguyên văn loại 41 tờ 27a8-9 ghi: «Tháng tư, quân của Giao Chỉ đại khởi. Hưng Đạo Vương của chúng đánh Vạn Hộ Lưu Thế Anh ở đồn A-Lỗ. Trung Thành Vương đánh Thiên Hộ Mă Vinh ở Giang Khẩu. Họ đều bị giết và rút lui. Thế rồi quân thủy bộ đến vây đại doanh mấy lớp, tuy chết nhiều nhưng quân tăng viện càng lúc càng đông. Quan quân sớm chiều cố đánh khốn khổ, thiếu thốn, khí giới đều hết, bèn bỏ kinh thành của chúng mà vượt sông…»-TTTNTông, LMThát việt dịch-.

Các vị Chiêu Thành Vương (khuyết danh), Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, tướng quân Nguyễn Khoái được lịnh của Đức Hoàng đế Trần đem các binh sĩ tinh nhuệ vây đánh quân giặc ở bến Tây-Kết (ở ven sông Hồng, khoảng thôn Đông Kết, xă Đông B́nh, huyện Châu Giang, tỉnh Hải Hưng. Ngày nay, thôn này cách sông Hồng 3 cây số, đất băi (tức băi Mạn-Trù, nay thuộc xă Tân Châu), nhưng xưa kia sông kề thôn).

Thừa thắng xông lên sau khi đă chiếm được bến Tây-Kết, các vị Chiêu Thành Vương (khuyết danh), Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật, Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, tướng quân Nguyễn Khoái đă thẳng đường tiến đánh Hàm Tử Quan (cửa Hàm Tử: ở băi Hàm Tử, huyện Động Yên tỉnh Hưng Yên). Trong toán quân của Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật có một số binh sĩ người Tống trong đoàn quân. Thượng hoàng Thánh Tông sợ binh lính của ta không phân biệt được, mới sai người tới bảo rằng: «đó là quân Thát (tức quân Tống) của Chiêu Văn Vương, phải nhận kỹ đừng bị lầm». Lư do là v́ quân Mông-cổ và quân Tống tiếng nói và y phục giống nhau. Nên khi quân Nguyên thấy như vậy bảo nhau là Đại Việt có người Tống sang giúp nên kinh sợ bỏ chạy và ta chiếm được ải này cũng không khó lắm. Nguyên do khi nhà Tống bị mất, có nhiều người Tống đă chạy sang nước ta và xin gia nhập vào hàng ngủ của Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật. Trong đó có Triệu Trung được nhận làm gia tướng. V́ thế trong trận này Trận Nhật Duật là người được ghi công nhiều nhất.

Như vậy là suốt trong tháng 4 sau khi lịnh tổng phản công được ban hành th́ quân dân Đại Việt đă tái chiếm lại các cứ điểm đă bị mất trước đây. Đó là A-Lỗ, Tây-Kết, Hàm Tử Quan và nó đă mở rộng cửa cho đường về giải phóng Thăng Long.

Trận phản công diễn ra tại cứ điểm A-Lỗ hay Hải-Thị do Hưng Đạo Vương chỉ huy. Đây là một trận đánh lớn không kém phần gay go quyết liệt. Quân nhà Trần đă tấn công hai hướng An-Lỗ và Giang-Khẩu. Ở tại Giang-Khẩu dưới sự chỉ huy của Trung Thành Vương đă kịch chiến với tướng nhà Nguyên là Thiên Hộ Mă Vinh. Binh sĩ Nguyên bị quân ta sát hại rất nhiều phải tháo lui. Sau đó hai cánh quân thủy bộ của nhà Trần đă tập trung toàn bộ lực lượng đánh vào đại doanh của chúng. Đại doanh đây chính là kinh thành Thăng Long. Mặc dù quân giặc cố gắng chống trả, quân ta thiệt hại không ít, nhưng nhờ chiến lược «đánh cầm chừng» trước đây nên ta đă bảo toàn được lực lượng do đó ta có đủ lực lượng để bủa vây quân địch đến mấy lớp và viện quân được điều đến liên tục để dứt điểm chiến trường quan trọng này. Quân Mông-cổ v́ bị vây hăm nhiều ngày, người ngựa thiệt hại, lương thực thiếu thốn, khí giới mất mát, không có viện binh cũng chẳng có khí cụ thay thế nên chúng buộc phải rút bỏ thành Thăng Long.Trận đánh từ A-Lỗ qua Giang-Khẩu đến Thăng Long ắt hẳn phải kéo dài đến cả tháng trời từ đầu tháng 4 cho đến thượng tuần tháng 5 mới hoàn tất.

Sang tháng 5 vào ngày mùng 3 năm Ất Dậu (1285) Thượng hoàng Thánh Tông và Hoàng đế Nhân Tông từ Thanh Hóa tiến ra cùng thân chinh đánh chiếm lại Trường-Yên (hay Tràng An theo Việt Sử Tiêu Án), ở đây quân ta đă thắng lớn, bắt được vô số địch quân cũng như giết được nhiều quân giặc.

Về chiến thắng ở Chương Dương làm bàn đạp để giải phóng Thăng Long th́ có một số sứ khác biệt. Trong các sử Tàu không thấy ghi tới chiến thắng này, c̣n sử ta chỉ ghi rất tóm tắt như, Toàn Thư viết: «Ngày mồng 10 (tháng 5), có người từ chỗ giặc trốn về đến ngự doanh tâu báo: Thượng tướng Quang Khải, Hoài Văn Hầu Quốc Toản, và Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp cùng em là Nguyễn Truyền, đem dân binh đánh bại quân giặc ở các xứ kinh thành, Chương Dương (Chương Dương là tên bến. Nay ở huyện Thường Tín, tỉnh Hà Sơn B́nh c̣n có tên xă Chương Dương ở ven sông Hồng). Quân giặc tan vỡ lớn. Bọn Thoát Hoan, B́nh Chương A Lạt rút chạy qua sông Lô» (tức sông Hồng).

Chương Dương (tên bến đ̣, ở xă Chương Dương, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Nội ngày nay-thuộc huyện Phong Châu tỉnh Phú Thọ) là một cứ điểm pḥng ngự lớn của giặc trước khi về tới Thăng Long. Có thể nói đây là tiền đồn xa để pḥng thủ kinh thành Thăng Long mà giặc Nguyên gọi là đại doanh. Tại đây quân ta và Mông-cổ đánh nhau một trận rất lớn và kẻ thù đă bị thiệt hại nặng. Có thể v́ lư do đó chúng đă không ghi một ḍng chữ nào trong các quyển sử Mông-cổ, ngoại trừ An-Nam Chí-Lược của Lê Tắc ghi vắn tắt: «Trong tháng 4, mùa hạ, An-Nam thừa cơ quân ta chỉnh măng, đánh lấy lại La-thành». Chương Dương là tiền đồn xa như đă nói, khi quân ta chiếm được địa điểm tức nhiên Thăng Long chắc chắn phải lọt vào tay ta thôi. Nếu Chương Dương không mất th́ Thăng Long không bị đe dọa và cũng không bị ta chiếm. Cho nên ở đây Lê Tắc viết: «An-Nam đánh lấy lại La-thành». La-thành tức thành Đại-La mà Đại-La là tên cũ của thành Thăng Long, thành này lại là đại doanh (tổng hành dinh đạo quân miền Bắc của Thoát Hoan) như trong Kinh thế đại điển tự lục Nguyên văn loại đă ghi. Chúng ta có thể biết được rằng kinh thành Thăng Long đă được quân ta giải phóng từ tháng 4 nhưng măi đến 10 tháng 5 mới có người lính của ta bị giặc bắt ở Chương Dương trốn chạy về báo cho hai vua đang chỉ huy trận đánh ở Trường-Yên được biết tin trên. Như vậy kinh thành Thăng Long được quân ta giải phóng vào cuối tháng 4 và tháng 10 tháng 5 có người chạy về Trường-Yên để báo là điều hợp lư là v́ trận đánh tái chiếm Thăng Long thành diễn ra rất gay go nên nó đă kéo dài hơn cả tháng trời. Tuy nhiên không hiểu v́ lư do ǵ mà Cương Mục và Việt Sử Tiêu Án lại không đề cập đến trận đánh tái chiếm Chương Dương độ?

Về mặt trận Trường-Yên, Cương Mục ghi tiếp: «Về phần quân Nguyên: quân của Toa Đô và quân của Thoát Hoan đóng cách nhau đến hai trăm dặm, lúc Thoát Hoan phải rút lui quân, Toa Đô vẫn chưa biết, nên Toa Đô và Ô Mă Nhi đem quân từ đường biển ra đánh ở sông Thiên Mạc, định phối hợp với cánh quân Thoát Hoan để nương tựa lẫn nhau».

Tại mặt trận Trường-Yên do Thoát Hoan chống giữ. Thoát Hoan đă bị hai vua Trần thống lănh quân sĩ đánh bại nên phải rút lui và cũng không kịp báo cho Toa Đô và Ô Mă Nhi cùng biết v́ chúng đóng quân cách nhau đến hai trăm dặm.

Tại mặt trận thành Thăng Long, An-Nam Chí-Lược ghi: «Ngày Đinh Sửu mồng 5 tháng 5, Giảo Kỳ cùng Vạn-Hộ phục binh đánh vào cung điện vua Trần, đánh tan rồi, đến sông Lư-giang hội họp với Trấn-Nam-Vương». Bên trong thành Thăng Long, quân ta truy đuổi gắt gao kẻ thù, Giảo-Kỳ và Vạn-Hộ rút lui sau chót (sau khi Thoát Hoan đă chạy) phải dùng kế mai phục chận đánh quân ta bằng nỏ mới thoát được khỏi sông Cái để họp với Thoát Hoan.

Sau khi Thăng Long đă sạch bóng quân thù, ngày 15 tháng 3 năm Ất Dậu (1285) hai vua đă về lại kinh thành trong tiếng khải hoàn và hai vị đă đi bái yết lăng tẩm của tổ tiên ở Long Hưng.

Ngày 17 tháng 3, Toa Đô và Ô Mă Nhi lại từ biển đánh vào sông Thiên Mạc, muốn phối hợp với quân của Thoát Hoan để có sự trợ lực lẫn nhau. Quân tiền thám của giặc Nguyên đi đến huyện Phù ninh (thuộc tỉnh Phú Thọ. Cánh quân giặc đến Phù Ninh chắc là cánh quân đến từ Vân Nam), viên phụ đạo huyện ấy là Hà Đặc lên núi Trĩ Sơn tử thủ. Quân Nguyên hạ trại và đóng ở động Cự-Đà (có lẽ thuộc xă Tử Đà, huyện Phong Châu, tỉnh Vĩnh Phú ngày nay. Theo thần tích địa phương th́ Hà Đặc là người xă Tử Đà). Hà Đặc lấy tre đan thành những h́nh người cao lớn, cho mặc áo, cứ đến chiều tối th́ dẫn ra dẫn vào. Ông lại cho dùi thủng cây to, cắm tên trên người lớn vào giữa lỗ để giặc ngờ là sức bắn mạnh làm xuyên thủng được (Toàn Thư-Bản Kỷ-Quyển V). Thấy h́nh thức bài trí như vậy, giặc Nguyên ngại không dám đánh. Quân ta do Hà Đặc chỉ huy xông ra đánh và phá được giặc. Ông dẫn quân đuổi theo đến A Lạp, bắc cầu phao qua sông, v́ quá hăng say nên bị tử trận. Người em là Hà Chương bị quân giặc bắt được. Thừa lúc giặc không đề pḥng, Hà Chương đă lấy được quần áo và cờ xí của chúng trốn đi trong đêm chạy về cho quân ta. Quân nhà Trần bèn dùng quân phục này trở lại doanh trại giặc, v́ không ngờ là quân ta giả dạng, chúng đă bị đánh úp dễ dàng và ta phá được trại của chúng.

Ngày 20 tháng 5 năm Ất Dậu (1285) hai vua thống lĩnh binh sĩ tấn công quân Nguyên ở Đại Mang Bộ (không rơ nơi đây ở đâu; Cương Mục và Việt Sử Tiêu Án gọi là Đại Mang) ở tại đây Tổng quản quân Nguyên là Trương Hiển đầu hàng quân ta. Sau chiến thắng ở Đại Mang Bộ, quân ta tiến chiếm Tây Kết.

Đại Mang Bộ và Tây Kết có thể rất gần nhau cho nên hai vua sau khi đă thống lĩnh quân Trần đánh bại giặc Nguyên ở Đại Mang Bộ xong th́ tiến chiếm Tây Kết. Tây Kết mà ta gọi lần này là Tây Kết 2. Vào đầu tháng 4 các vị Chiêu Thành Vương (khuyết danh), Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật, Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, tướng quân Nguyễn Khoái đă thành công trong việc đánh bại quân Nguyên ở trại Tây Kết (mà ta gọi đây là Tây Kết 1) và sau đó đă đưa đến chiến thắng Hàm Tử Quan. Có thể rằng sau khi đánh bại quân Nguyên trong trận Tây Kết 1, quân ta đă rút đi để tiếp tục đánh những trận khác nên đă không cho quân đóng tại chỗ. Cho nên khi đạo quân phía Nam của Toa Đô và Ô Mă Nhi trên đựng Bắc tiến để phối hợp với Thoát Hoan đă đến đóng tại đây. Trên đường tiến quân tới Tây Kết, chúng đă gặp sự kháng cự không ngừng của quân đội Đại Việt. Phải nói đây là trận chiến dữ dội nhất v́ «dọc đường ngày đêm không nghĩ và phải đánh cùng quân An Nam». Trong trận chiến này hai vị Tướng nhà Trần không may đă bị chúng bắt đó là Trần-Đà-Phạp và Nguyễn-Thạnh.

Toàn Thư-Bản Kỷ-Quyển V ghi diễn tiến trận đánh Tây Kết 2 như sau: «Ngày 20, hai vua tiến đánh ở Đại Mang Bộ. Tổng quản giặc Nguyên là Trương Hiển đầu hàng. Hôm đó, ta đánh bại giặc ở Tây Kết, giết và làm bị thương rất nhiều, chém đầu Nguyên soái Toa Đô. Nửa đêm Ô Mă Nhi trốn qua cửa sông Thanh Hóa, hai vua đuổi theo như không kịp bắt được hơn 5 vạn dư đảng giặc đem về, Ô Mă Nhi chỉ c̣n một chiến thuyền vượt biển trốn thoát…Vua trông thấy thủ cấp Toa Đô, thương hại nói: «người làm tôi phải nên như thế này»  …Rồi cởi áo ngự, sai quân đem liệm chôn, nhưng ngầm sai lấy đầu Toa Đô đem tẩm dầu để răn, v́ cớ Toa Đô mượn đường vào cướp nước ta đă ba năm vậy».

An-Nam Chí-Lược ghi về Tây Kết 2 rằng: «Khi ấy Toa đô nghe đại binh đă kéo về, mới từ Thanh Hóa lui quân, dọc đường này đêm không nghĩ và phải đánh cùng quân An-Nam, bắt được mấy tướng là Trần-Đà-Phạp và Nguyễn-Thạnh. Đến đất Bái-Khanh, tướng của Toa Đô là Lễ-cước-Trương làm phản, suất quân An-Nam đánh với quân Nguyên, Toa Đô nhảy ngựa rơi xuống nước chết đuối, quân lính bị tan ră, duy Ô Mă Nhi và Vạn Hộ Lưu Khê đi thuyền nhỏ trốn thoát, chỉ Tiểu-Lư đi chiếc thuyền cô đơn mà đánh theo sau, bị thua tự đâm họng, Thế-Tử cảm trung nghĩa của y, sai người cứu sống và đăi đằng tử tế».

Hai vua thắng lớn ở mặt trận Trường Yên đă dẫn đoàn quân Bắc tiến để phối hợp với cánh quân miền Bắc có trọng trách giải phóng Thăng Long do Hưng Đạo Vương chỉ huy. Và trên đuờng đi quân ta đă chạm trán đến cánh quân phía Nam của giặc ở Tây Kết. Tại đây đă diễn ra trận đánh có cùng một địa điểm mà ta gọi là Tây Kết 2.

Tại mặt trận này, hốt hoảng v́ bị quân ta truy đuổi, một tướng nhà Nguyên thân cận với Toa Đô tên là Trương Hiển (An-Nam Chí-Lược ghi là Lễ-cước-Trương) đă đầu hàng quân ta đồng thời thả các binh sĩ bị Mông-cổ bắt. Những binh sĩ này thừa cơ hội đó tập kích từ bên trong pḥng tuyến giặc để phối hợp với cánh quân tấn công bên ngoài đă làm cho đạo quân này rối loạn hoảng sợ. Giữa t́nh thế đó, Toa Đô nhảy ngựa rơi xuống nước chết đuối (An-Nam Chí-Lược), Toàn Thư ghi là bị chém đầu, Nguyên sử bảo là Toa Đô bị chết ở sông Cầu. Do v́ chủ tướng bị tử thương nên quân Nguyên đă tan vỡ nhanh chóng và quân ta được thắng lớn. Ô Mă Nhi thừa cơ màn đêm buông xuống đă trốn chạy vào Thanh Hóa, quân ta rượt theo không kịp. Hắn và Vạn-Hộ Lưu-Khê dùng thuyền nhỏ vượt biển chạy về Tàu. Một viên tướng nhà Nguyên tên là Tiểu-Lư chạy trốn bằng một thuyền nhỏ khác bị quân ta đuổi kịp nên đâm cổ tự tử. Đức Hoàng đế Trần cảm ḷng trung thành của người này đă ra lịnh cứu sống và đăi đằng tử tế.

Qua hai trích đoạn vừa rồi ta thấy được toàn bộ bối cảnh những giờ phút sau cùng trên đất Việt của đạo quân phía Nam của quân Nguyên.

Khi trông thấy đầu người của Toa Đô, Đức Hoàng đế Trần nói: «Người làm tôi phải nên như thế này» . Xong cởi áo ngự, bảo quân lính đem chôn, nhưng kín đáo ra lịnh lấy đầu Toa Đô đem tẩm dầu để răn đe quân giặc v́ chính y là người gây hấn mượn đường đánh Chiêm Thành để cướp nước ta cách đây ba năm về trước và cũng là người đốt phá kinh thành. Trong trận Tây Kết 2 quân đội nhà Trần bắt sống được 50 ngàn quân Nguyên ngay tại chiến trường. Thế là cả đạo quân phía Nam gồm 70 ngàn người đă bị đánh tan trong một thời gian ngắn.

Về hành động Đức Hoàng đế Trần cởi áo ngự bọc đầu của Toa Đô đồng thời sai người tẩm dầu để răn đe kẻ thù, sử thần Ngô Sĩ Liên đánh giá như sau: «Than ôi! Câu nói ấy của vua thực là câu nói của bực đế vương! Nói rơ đại nghĩa để người bề tôi muôn đời biết rằng trung với vua, chết v́ phận sự là vinh, tuy chết mà bất hủ, mối quan hệ lớn lắm vậy. Huống chi lại cởi áo ngự, sai người liệm chôn nữa. Làm vậy có thể khích lệ sĩ khí để trừ giặc mạnh là phải lắm».

Quân Nguyên thua luôn liên tiếp nhiều trận lớn, quân lính lớp chết, lớp bị bắt làm tù binh đến mấy chục ngàn người, do đó tinh thần quân Mông-cổ ngày càng sa sút, cộng với thời tiết nước ta nhằm lúc đó trời vào hè, lúc th́ nắng gay gắt, khi th́ mưa tầm tả khiến tinh thần của đạo quân xâm lược sa sút trầm trọng. Trong t́nh h́nh như thế có ở lại cũng chẳng làm ǵ được, nên Thoát Hoan tính kế rút lui. Tuy nhiên, Hưng Đạo Vương đă dự trù trước trường hợp này nên đă đặt phục binh những nơi giặc có thể đi qua. Khi quân của Thoát Hoan rút về ngang qua Vạn Kiếp, chưa kịp lên đ̣ sang sông, quân của ta từ các nơi ẩn núp túa ra giết giặc. V́ bị đánh úp bất ngờ quân Mông-cổ bị chết hơn một nửa. Cận tướng Lư-Hằng liều chết bảo vệ Thoát Hoan, chạy về Tư-Minh (tên phủ( ?) thuộc phủ tỉnh Thái B́nh tỉnh Quảng Tây, giáp với tỉnh Lạng Sơn nước ta), nhưng bị ta bắn tên tẩm độc trúng đầu gối và chết ngay tại chỗ. Trong lúc giao tranh một vị quan hầu của Hưng Đạo Vương là nghĩa-dũng Trần-Thiệu bị tử trận. Tỳ tướng là Lư Quán tụ hợp khoảng 50 ngàn quân c̣n lại, dấu Thoát Hoan vào một ống đồng chạy trốn vế phương Bắc. Chúng chạy đến Tư Minh, nhưng Hưng Vũ Vương Hiến đuổi theo kịp, dùng tên độc bắn chết Lư Quán, và quân Nguyên đă tan vỡ hẳn trong trận này. Vào mùa đông cùng năm, đám phản thần Trần Ích Tắc về tới Yên kinh và triều kiến Hốt-Tất-Liệt.

Trong các quyển sử của ta như Cương Mục, Việt Sử Tiêu Án và các quyển sử soạn gần đây như Việt Sử Tân Biên của ông Phạm Văn Sơn, Việt Nam Sử Lược của Lệ Thần Trần Trọng Kim, Trần Hưng Đạo của Hoàng Thúc Trâm đă không thấy đề cập đến cái chết của Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản. Chỉ có Toàn Thư Bản Kỷ Quyển V viết: «…Vua thấy Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản…c̣n trẻ tuổi, không cho dự bàn…Đến khi mất, vua rất thương tiếc, thân làm văn tế, lại gia phong tước Vương». Nhưng các quyển sử của nhà Nguyên lại có đề cập đến cái chết của ông. An nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 8a10 ghi: «Quan quân đến sông Như Nguyệt, th́ Nhật Huyên sai Hoài Văn Hầu đến đánh». Kinh thế đại điển tự lục trong Nguyên Văn loại 41 tờ 27b 1-2 viết: «Đến sông Như Nguyệt, Nhật Huyên sai Hoài Văn Hầu đến đuổi th́ bị giết». -TTTNTông, LMThát- Việt dịch.

Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản quê ở làng Tức Mặc tỉnh Nam Định. Hội nghị B́nh Than được tổ chức để thống nhất ư chí đoàn kết của hàng vương tôn quốc thích hầu đối phó với hiểm họa xâm lăng gần kề của quân Mông-cổ. Trong hội nghị này v́ c̣n nhỏ tuổi ông đă không được Đức Hoàng đế Trần cho tham dự, tự thấy hổ thẹn v́ chưa có cơ hội đóng góp cho nước nhà, Trần Quốc Toản đă bóp nát quả cam đang cầm trên tay lúc nào cũng không hay. Khi về nhà, với tinh thần chiến đấu tự phát, ông đă chiêu mộ binh lính, dựng lá cờ Phá Cường Địch Báo Hoàng Ân. Khi giặc Nguyên xâm phạm cơi bờ Đại Việt, ông luôn đi đầu và dẫn quân sĩ chống giặc với khí thế vô cùng dũng mănh khiến kẻ thù phải khiếp hăi khi nghe đến tên ông. Sau lịnh tổng phản công vào mùa hè tháng 4 năm Ất Dậu (1285), quân địch rút chạy khỏi kinh thành Thăng Long, Đức Hoàng đế Trần đă sai Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản truy kích quân của Thoát Hoan. Quân ta đụng độ với giặc Tàu ở sông Như Nguyệt (chưa rơ nơi đâu), và người anh hùng thiếu niên này đă anh dũng hy sinh cho đất nước. Tiếc rằng cái chết anh hùng này hàng hậu bối chúng ta đă không được biết nhiều hơn. Khi nghe tin Hoài Văn Hầu tử quốc, Đức Hoàng đế Trần rất là thương tiếc đă tự thân làm văn tế tưởng niệm đồng thời gia phong tước Vương cho Trần Quốc Toản.

*Mời xem tiếp Chương Bảy ->

 

 

 

 

 email: truclamyentu.ifrance.com

Trúc Lâm Yên T @ 04/2004