Nhóm Nghiên Cứu và Phổ Cập Tinh Thần Trúc Lâm Yên Tử

Tấm lòng

Mục đích thành lập nhóm Nghiên cứu nhằm phổ biến tinh thần Hòa quang đồng trần do ngài Điều Ngự Giác Hoàng…(xin mời đọc tiếp) 

 

Văn hóa tộc Việt

Tư tưởng nhân quyền của tộc Việt

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn lấy chí nhân mà thay cường bạo

Khai bút đầu năm Ất dậu 2005...

 

Dòng s

Đức vua Trần Nhân Tông

Chiến thắng Vân Đồn

Chiến thắng sông Bạch Đằng

Những hư cấu liên quan đến các vị vua thời nhà Trần (12)

Chân dung đức Thánh Trần

Vua Trần Nhân Tông-Anh hùng dân tộc kiêm triết gia thi sĩ

Đại Việt sử ký khảo luận (từ thời lập quốc đến thế kỷ 21)

Giới thiệu Việt sử đại cương

Bảo nghĩa hầu Trần Bình Trọng

Quang Trung hoàng đế

Nghiên cứu biên giới Việt Trung 

Mo^.t cuo^'n ngo.c pha? nhie^`u gia' tri. li.ch su+?

Go.i ho^`n Quo^'c To^? ...

 

Dòng s cn đại

Quân sử Việt Nam 

Tìm mo^.t Gandhi cho Vie^.t Nam

Nguo+`i lính Nguye^~n Xuân Phúc

 

Tư tưng Pht giáo

Đường về cõi Phật

Phật

Xuân Di Lặc xuân thái bình

Kính mừng đức Phật đản sanh

Chữ NHÂN

Hành trạng vô úy của Phật giáo Việt Nam

Khánh Đản 745 năm của đức Điều Ngự

Mahatma Gandhi

Tuyên ngôn d-o^.c la^.p cu?a nu+o+'c D-a.i Vie^.t

Pha^.t giáo Vie^.t Nam

Ða.i Vie^.t Chu+ Tôn Ðu+'c hành tra.ng

Trúc Lâm so+ To^?

Nhi. To^? Pháp Loa

Tam To^? Huye^`n Quang

Trúc Lâm d-e^. tu+' To^?

Thie^`n ho.c Vie^.t Nam

Tinh tha^`n dung hóa cu?a tu+ tu+o+?ng Vie^.t vo+'i chu+~ Lòng

Sri Aurobindo

Vô nha^'t d-a.i su+

Tam giáo do^`ng nguyên

Bưu hoa - tin t Vit Nam

Bưu hoa Việt Nam - Tiền tệ Việt Nam

Nhạc Phật giáo

Nhạc phẩm Phật hoàng Trần Nhân Tôn

Nhạc phẩm Hòa kính khiêm tu

Khối 8406

Ṭa Bạch ốc phản đối cộng sản Việt Nam

Báo chí Pháp đăng tin cộng sản Việt Nam đàn áp đối lập

 

  Đức Vua Trần Nhân Tông

-Tinh anh và tổng lực của tộc Việt-

 

 

 

Biên khảo : Trúc Lâm Phúc Lộc

(Quốc Lịch 4882, Phật Lịch 2546, ngày 16 tháng tư năm Quư Mùi tức 16/05/2003 dương lịch)

Chương Một 

Hành trạng

Theo Thánh Đăng Thực Lục, Đức vua Trần Nhân Tông được Trúc Lâm Tuệ Trung Thượng Sĩ truyền cho giáo chỉ. Trúc Lâm Đại Sĩ tức là con vua thứ nhà Trần, con lớn vua Trần Thánh Tông. Tôn danh của ngài là Khâm, đản sanh ngày 11 tháng 11 năm Mậu ngọ (1258), niên hiệu Nguyên Phong thứ 8 (1258). Năm Mậu Dần (1278) tháng 2, ngày 12 lên ngôi vua, đổi niên hiệu là Thiệu Bảo. Trước kia Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái Hậu thường mộng thấy thần nhân cho một đôi kiếm, nói: «Thượng đế có sắc phong cho nhà người tự ư chọn lấy». Hoàng hậu vô t́nh mất vui. Ngẫu nhiên được thanh đoản kiếm, từ đấy mà có mang thai. Những tháng nuôi thai không kiêng kỵ, nhà bếp đưa lên chi ăn uống mà thai không bị tổn thương. Hoàng hậu biết là có phúc như thế vậy. Khi đản sanh, ngài có được tinh anh của thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng, hai vị hoàng phi đều cho là lạ, gọi là “Kim tiền đồng tử” (sách Tam Tổ Thực Lục ghi Kim Phật). Vai bên trái có một chấm đen như hạt đỗ lớn, cho nên có thể gánh vác việc non sông.

 

Năm lên 16 tuổi được lập làm thái tử. Nhân Tông cố từ chối đến ba lần, xin để cho em thay thế. Lời xin không được chấp thuận, vua cha (Thánh Tông) chọn trưởng nữ của Nguyên Từ Quốc Mẫu kết hôn cho, tức là Khâm Từ Thái Hậu. Cầm sắt tuy hài ḥa mà trong ḷng vua Nhân Tông thấy lạt lẽo. Một đêm vào giờ Tư, ngài bèn vượt thành mà đi, định vào núi Yên Tử. Đi đến chùa Tháp núi Đông Cưu, trời rạng sáng, mệt quá, vào nghĩ trong tháp. Vị thầy trụ tŕ thấy diện mạo khác thường, mời thụ trai. Hôm ấy Thái hậu tâu lên vua cha Thánh Tông, vua bèn sai quần thần chạy t́m bốn phương. Vua Nhân Tông bất đắc dĩ phải trở về. Năm 21 tuổi, được thượng hoàng truyền ngôi và lấy niên hiệu là Thiệu Bảo Nguyên Niên cũng gọi là Trùng Hưng (1279). Tuy vinh hoa cùng tột, nhưng vua vẫn sống trong thanh tịnh, ban ngày cùng triều thần bàn việc nước trong hoàng cung, đêm về nghĩ chùa Tư Phúc ở nội thành. Ban ngày mộng thấy ở  trên rốn nở hoa sen vàng lớn như bánh xe, trên hoa hiện vị Phật vàng, bên cạnh có người chỉ vào vua mà bảo: «Có biết vị Phật này không? Đấy là vị Phật chí tôn chiếu khắp!». Giật ḿnh tỉnh dậy, đem mộng bẩm lên, vua cha Thánh Tông càng lấy làm lạ. Từ đấy nhà vua thường ăn chay lạt không dùng món ăn mặn, người xanh gầy gầy yếu. Thánh Tông lấy làm lạ hỏi, vua nói lư do. Thánh Tông khóc mà bảo rằng: «ta nay đă già yếu, cậy vào có một ḿnh con, nếu con như thế này th́ sự nghiệp của tổ tông c̣n ra sao?». Vua Nhân Tông cũng khóc…Ngài c̣n là vị lănh đạo tối cao quân đội Đại Việt trong 2 cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ và oanh liệt đánh bại cuộc xâm lăng của chúng ghi lại chiến tích lẫy lừng nhất trong lịch sử dân tộc cũng như thế giới thời trung cổ vào các năm 1285, 1288. Niên hiệu Trùng Hưng thứ 9 (1293) vua truyền ngôi cho con là thái tử Thuyên (tức vua Trần Anh Tông) rồi về ở Thiên Trường làm thái thượng hoàng 6 năm.

 

Niên hiệu Hưng Long thứ 3 (1295) thượng hoàng Nhân Tông dời đến ở hành cung Vũ Lâm, huyện Gia Khánh, tỉnh Ninh B́nh. Đây là năm đầu tiên ngài khởi sự làm một tịnh hạnh nhơn (tập sự xuất gia), thượng hoàng có làm bài thơ:

 

Vũ Lâm Thu Văn

Hoa kiều đảo ảnh trám khê hành

Nhất mạt tà dương thủy ngoại minh

Tịch tịch thiên sơn, hồng diệp lạc,

Thấp vân ḥa lộ tống chung thanh

 

Cuối Thu Ở Hành Cung Vũ Lâm

Con khe d́n ngược bóng cầu

Hắt lên một vết sáng màu tà dương.

Núi non lặn trút lá hường

Móc dầm mây ướt đưa đường tiếng chuông.

-Bản dịch Giản Chi-

 

Ngài chỉ ở hành cung Vũ Lâm trong thời gian ngắn, rồi lại trở về quê ở Thiên Trường (Nam Định), mở Vô Lượng Pháp Hội tại chùa Phổ Minh bố thí tiền của, vải vóc, đồ ăn và trợ cấp cho những nơi mất mùa nghèo đói.

 

Niên hiệu Hưng Long thứ 7 (1299), ngài  cho dựng thảo am ở ngọn Tử Tiêu, núi Yên Tử, lấy pháp danh là Hương Vân Đại Đầu Đà, hiệu là Đại Hương Hải Ấn Thiền Sư, và cho lập chùa Long Động (ở bên núi) để độ tăng và thuyết giảng chánh pháp. Số người theo học đông đảo lên tới hàng ngàn học chúng từ các nơi tụ về. Vua Trần Anh Tông thấy ngài tu khổ hạnh, trèo đèo leo núi vất vả thường kiếm cớ ngăn trở, nhưng ngài cương quyết khước từ.

 

Cũng trong năm 1299, vua Anh Tông sắc cho ấn hành quyển Phật Giáo Pháp Sự Đạo Tràng Công Văn Nghi Thức để phổ biến trong khắp nước đánh dấu ngày thượng hoàng Nhân Tông xuất gia đầu Phật.

 

Niên hiệu Hưng Long thứ 12 (1304) ngài lấy đạo hiệu là Trúc Lâm Đầu Đà Điều Ngự Giác Hoàng rồi cùng đệ tử là tôn giả Pháp Loa và mười người đệ tử đi về khắp nẻo làng quê giảng pháp, hướng dẫn dân chúng làm lành lánh dữ tu theo mười điều thiện cũng như phá bỏ các nơi thờ cúng mê tín dị đoan (sách sử gọi là dâm từ). Sau đó Giác Hoàng trở về chùa Từ Nghiêm ở Linh Sơn mở khóa dạy thiền.

 

Cuối năm 1304, vua Anh Tông cung thỉnh Giác Hoàng về kinh thành Thăng Long để thọ giới Bồ Tát tại gia. Năm 1306, ngài vào tu trong am Ngọc Vân, lấy pháp hiệu là Trúc Lâm Đại Sĩ. Niên hiệu Hưng Long thứ 16 (1308), ngày 1 tháng giêng năm Mậu Thân, Giác Hoàng chính thức ủy thác tôn giả Pháp Loa đảm nhiệm phần vụ trụ tŕ chùa Báo Ân ở Siêu Loại (Bắc Ninh). Tháng 4 đích thân tới chùa Vĩnh Nghiêm ở Lạng Giang (Bắc Giang) chủ tŕ giảng Truyền Đăng Lục, quốc sư Đạo Nhất giảng kinh Pháp Hoa cho chư tăng kiết hạ tại đây.

 

Sau ngày lễ Giải Hạ, kết thúc ba tháng thúc liễm thân tâm trau dồi giới đức, ngài trở lại núi Yên Tử, không giữ lại các vị tịnh hạnh nhơn (người mới xuất gia), chỉ để lại mười vị thị giả theo lên trên am Tử Tiêu và giảng Truyền Đăng Lục riêng cho tôn giả Pháp Loa. Ngài c̣n đi thăm khắp các hang động, khi quá mệt, vào trong Thạch Thất nghỉ chân. Pháp Loa tôn giả bạch rằng: “Tôn Đức xuân thu đă cao, mà xông pha mưa nắng lỡ có mệnh hệ ǵ th́ mạng mạch chánh pháp biết nương tựa vào đâu?”.

 

Giác Hoàng đáp: “Thời tiết đă đến rồi, ta chỉ chờ ngày thị tịch mà thôi“.

 

Mùng 5 tháng 10, có gia đồng của công chúa Thiên Thụy (người chị ruột của ngài) đến tâu rằng: “công chúa bị bịnh nặng, chỉ mong được diện kiến Tôn Đức trước khi ĺa trần”.

 

Ngài ngậm ngùi than:

 

“Thời tiết đă tới rồi!“.

 

Khi tới thăm người chị là Thiên Thụy công chúa, ngài bảo rằng: “Nếu chị đă đến ngày giờ th́ cứ đi, âm binh có hỏi th́ trả lời rằng: “Xin đợi một chút, em tôi là Trúc Lâm Đại Sĩ sẽ tới ngay“. Thăm chị xong, ngày rằm về núi nghĩ đêm ở chùa Siêu Loại. Sáng hôm sau khi đi ngang chùa làng Cổ Châu, ngài cảm đề bài thơ:

 

“Thế số nhất tức mặc,

Thời t́nh lưỡng hải ngân.

Ma cung hồn quản thậm,

Phật quốc bất thăng xuân».

 

Nghĩa

Mạng người một hơi thở

Thói đời buồn hai mắt

Cung ma lắm ưu phiền

Nước Phật c̣n vui hơn

 

Ngài thị tịch vào mùng 1 tháng 11 năm Mậu Thân (1308), trụ thế 51 năm (công chúa Thiên Thụy cũng từ trần cùng một ngày) Tôn giả Pháp Loa rước pháp thể của Giác Hoàng lên dàn thiêu. Tương truyền: « khi đó có hương thơm tỏa ra và nghe thấy những tiếng nhạc ở trên trời, mây ngũ sắc tụ lại thành h́nh cái tàn để che nơi hỏa thiêu Giác Hoàng Trần Nhân Tông». Tôn giả Pháp Loa thu nhặt ngọc cốt: ngoài xương (ngọc cốt) c̣n thấy những xá lợi ngũ sắc. Tam Tổ Thực Lục ghi là sau khi hỏa thiêu có thu thập được 3000 xá lợi. Nhưng trong Tam Tổ Hành Trạng ghi là có hơn 1000 xá lợi. Sau khi đó vua Trần Anh Tông và triều đ́nh đến núi Yên Tử để thọ tang đồng thời cũng đem long giá rước ngọc cốt về Đức Lăng và xây tháp thờ ở chùa Vân Yên trên núi Yên Tử, lấy tên là Huệ Quang Kim Tháp và dâng tôn hiệu là Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật. Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục ghi thụy hiệu của ngài là Pháp Thiên Sùng Đạo Ứng Thế Hóa Dân Long Từ Hiển Huệ Thánh Văn Thần Vũ Nguyên Minh Huệ Hiếu Hoàng Đế.

 

Đại Việt Sử Lược ghi các niên biểu về thời kỳ trị v́ của Đức vua Trần Nhân Tông như sau:

- Niên hiệu : Thiệu Bảo (1279-1284 ND), gồm 6 năm.

- Năm Thiệu Bảo thứ nhất là năm Kỹ Măo (T.L. 1279-ND).

- Trùng Hưng (1285-1292 ND) gồm 8 năm.

- Năm Trùng Hưng thứ nhất là năm Ất Dậu (T.L.năm 1285-ND).

 

Ông Louis BEZACHER viết trong Le Stupa du Phổ Minh Tự, nghiên cứu những tài liệu Tam Tổ Thực Lục, Tam Tổ Hành Trạng, Trúc Lâm Tông Chỉ, Nam Ông Mộng Lục và Tam Tổ Hành Trạng th́ lễ táng của vua Trần Nhân Tông được tổ chức tại Hà Nội. Nhưng theo Nam Ông Mộng Lục th́ lễ hỏa táng của ngài được tổ chức ở gần am Ngọa Vân.

 

«Trong lễ tang có hoàng tử Oanh (cũng gọi là Mạnh), lên 9 tuổi, đứng gần vua Anh Tông. Nam Ông Mộng Lục chép là xá lợi của Thượng hoàng Nhân Tông đă bay đến ẩn trong áo của một hoàng tử con Trần Anh Tông và chiếu sáng lên. Vua Anh Tông quỳ lạy xin tuân lịnh, sau khi đó th́ ánh sáng xá lợi biến đi. Vua Anh Tông đă chọn vị hoàng tử đó làm đông cung thái tử. Tam Tổ Thực Lục  cũng kể sự việc này và có ghi là vua Trần Anh Tông đă khóc và không c̣n nghi ngờ các xá lợi. Vua Anh Tông truyền để ngọc cốt trong bảo tháp xây trên lăng của Thượng hoàng Nhân Tông và những xá lợi chia làm hai phần đựng trong b́nh đựng di cốt. Sau lễ tang, ngọc cốt được đem chôn ở Đức Lăng, một phần xá lợi đặt ở tháp trong lăng (nhưng đặt ở kim tháp trong chùa Vân Yên trên núi Yên Tử)».

 

Các tài liệu vừa kể đều không ghi ngày tháng cử hàng lễ táng Thượng hoàng Nhân Tông, nhưng trong tập 4 của Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, có ghi tháng 9 âm lịch mùa thu năm 1310, an táng linh cữu Nhân Tông ở Đức Lăng, phủ Long Hưng, tỉnh Hưng Yên ngày nay. Như vậy theo KĐVSTGCM th́ thượng hoàng Nhân Tông mất ở chùa trên núi Yên Tử vào tháng 11 âm lịch năm Mậu Thân (1308) và măi tới tháng 9 âm lịch năm Canh Tuất (1310) mới làm lễ an táng linh cữu ở Đức Lăng. Như vậy linh cữu ngài được quàn khoảng hai mươi hai tháng mới an táng (gần hai năm).

 

Tam Tổ Thực Lục chỉ ghi có nơi chôn ngọc cốt và xá lợi Thượng hoàng Trần Nhân Tông là tháp Đức Lăng và tháp ở chùa Vân Yên, mà không nói phần xá lợi thứ hai được để ở đâu. Louis BEZACHER cho rằng phần xá lợi này phải để ở tháp xây ở chùa Phổ Minh, làng Tức Mặc, tỉnh Nam Định. Tháp chùa Phổ Minh xây năm 1310 theo lịnh của vua Trần Anh Tông (1293-1314) để chứa một phần tro xương của Thượng hoàng Trần Nhân Tông. Cái tháp này có ư nghĩa đặc biệt ở chỗ kiến trúc cũng như việc phụng thờ xá lợi của một vị Tăng sĩ mà lúc c̣n sống từng là bậc hoàng đế. Và nó cũng là cái tháp duy nhất ở Việt Nam có h́nh thức như vậy.

 

Việt Sử Tiêu Án cho biết «Khi rước di hài vua Nhân Tông về táng ở Đức Lăng, lúc tử cung (quan tài của vua gọi là tử cung) sắp đưa ra, người xem đóng chặt cả cung, phải dùng đến lính ngự lâm để mở lối đi cũng không được. Vua (Anh Tông) sai Trịnh Trọng Tử dẹp mở đường. Trọng Tử đến sân rồng gọi đạo quân Long Dực hát khúc long ngâm, dân chúng kéo đến đó xem; cung điện mới rộng chỗ đi được, lại lấy những câu hát ở dọc đường, phổ vào khúc hát, làm cho có tiếng hát liền măi, không cần phải truyền bảo ǵ, mà khi đi lên, đi xuống, quanh chuyển, không có lo nghiêng lệch nữa. Người đời bấy giờ khen là có xảo tứ».

 

Xá lợi của vua Nhân Tông chia làm hai phần : một đưa về táng ở Đức Lăng; một để ở tháp Yên Tử. Có thầy Trí Không ở chùa Siêu Loại là đốt tay cháy từ bàn tay đến cánh tay, cứ ngồi nghiễm nhiên, không đổi sắc mặt. Vua Anh Tông hỏi, thầy trả lời rằng : «Thần đốt đèn đó». Lửa tắt, thầy về tăng viện ngủ kỹ, đến khi thức dậy chỗ phỏng lên đều khỏi cả. Đến lúc xá lợi vua Nhân Tông đưa để ở bảo tháp, thầy liền lên núi hầu hạ».

 

Những tác phẩm văn hóa do ngài Giác Hoàng Điều Ngự sáng tác gồm :

Chữ Hán :

-         Tăng Già Toái Sự.

-         Thạch Thất Mị Ngữ.

-         Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục.

-         Trúc Lâm Hậu Lục.

-         Đại Hương Hải Ấn Thi Tập.

Chữ Việt (Nôm)

-         Cư Trần Lạc  Đạo Phú.

-         Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca.

 

Thời gian ở ngôi của Đức vua Trần Nhân Tông và những sự kiện chính yếu được ghi nhận như sau (1279-1293) :

-         1280 Ban hành quan xích (thước đo của nhà nước quy định với tinh thần thống nhất quốc gia).

-         1281 Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật được lịnh đi dẹp loạn Giốc Mật hạt Đà Giang. Nhật Duật một ḿnh một ngựa đă chinh phục được ḷng dân Mán.

-         1282 Hàn Thuyên khởi xướng ra thơ phú bằng quốc âm, với bài văn tế Cá Sấu, được vua ban cho tên họ của Hàn Dũ. Có tin cấp báo quân Nguyên sang xâm chiếm lần thứ hai. Nhà vua ở B́nh Than nhóm họp các vương và bá quan hỏi kế công và thủ.

-         1283 Dùng Hưng Đạo Vương làm Quốc Công Tiết Chế thống lănh các quân.

-         1284 Vời các bô lăo nhóm họp ở điện Diên Hồng để hỏi ư kiến nên đánh hay hàng. Hưng Đạo Vương nhóm quân các lộ ở Vạn Kiếp.

-         1285 Binh của Thoát Hoan công hăm kinh thành. Quang Khải đóng ở Nghệ An, B́nh Trọng bị quân Nguyên bắt và bị giết. Nhật Duật đánh bại quân Nguyên ở Hàm Tử Quan. Vua rước Thượng hoàng (Thánh Tông) tự làm tướng đánh quân Nguyên chém Toa Đô. Hưng Đạo Vương đánh bại quân Nguyên ở Vạn Kiếp. Vua rước Thượng hoàng về cung.

-         1286 Trả tù binh nhà Nguyên về xứ. Xuống chiếu cho tôn thất vương hầu mộ binh.

-         1287 Bọn Thoát Hoan của Nguyên sang trả thù. Quân Nguyên tiến vào kinh thành, vua rước Thượng hoàng đi Hà Nam.

-         1288 Tướng Nguyên Ô Mă Nhi tiến vào Long Hưng. Trần Khánh Dư đánh bại quân Nguyên ở Vân Đồn. Vua Nhân Tông và Hưng Đạo Vương cả phá quân Nguyên ở Bạch Đằng bắt sống Ô Mă Nhi. Thoát Hoan chạy trốn. Vua rước Thượng hoàng về cung.

-         1289 Trả tù binh nhà Nguyên về nước. Định công luận tội về trận đánh Nguyên.

-         1290 Vua tự làm tướng đánh Ai Lao. Thánh Tông băng hà (theo Hoàng Việt Giáp Tư niên biểu của Nguyễn Bá Trác)

 

* Mời xem tiếp Chương Hai ->

 

 

 

 

 email: truclamyentu.ifrance.com

Trúc Lâm Yên T @ 04/2004