Nhóm Nghiên Cứu và Phổ Cập Tinh Thần Trúc Lâm Yên Tử

Tấm lòng

Mục đích thành lập nhóm Nghiên cứu nhằm phổ biến tinh thần Hòa quang đồng trần do ngài Điều Ngự Giác Hoàng…(xin mời đọc tiếp) 

 

Văn hóa tộc Việt

Tư tưởng nhân quyền của tộc Việt

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn lấy chí nhân mà thay cường bạo

Khai bút đầu năm Ất dậu 2005...

 

Dòng s

Đức vua Trần Nhân Tông

Chiến thắng Vân Đồn

Chiến thắng sông Bạch Đằng

Những hư cấu liên quan đến các vị vua thời nhà Trần (12)

Chân dung đức Thánh Trần

Vua Trần Nhân Tông-Anh hùng dân tộc kiêm triết gia thi sĩ

Đại Việt sử ký khảo luận (từ thời lập quốc đến thế kỷ 21)

Giới thiệu Việt sử đại cương

Bảo nghĩa hầu Trần Bình Trọng

Quang Trung hoàng đế

Nghiên cứu biên giới Việt Trung 

Mo^.t cuo^'n ngo.c pha? nhie^`u gia' tri. li.ch su+?

Go.i ho^`n Quo^'c To^? ...

 

Dòng s cn đại

Quân sử Việt Nam 

Tìm mo^.t Gandhi cho Vie^.t Nam

Nguo+`i lính Nguye^~n Xuân Phúc

 

Tư tưng Pht giáo

Đường về cõi Phật

Phật

Xuân Di Lặc xuân thái bình

Kính mừng đức Phật đản sanh

Chữ NHÂN

Hành trạng vô úy của Phật giáo Việt Nam

Khánh Đản 745 năm của đức Điều Ngự

Mahatma Gandhi

Tuyên ngôn d-o^.c la^.p cu?a nu+o+'c D-a.i Vie^.t

Pha^.t giáo Vie^.t Nam

Ða.i Vie^.t Chu+ Tôn Ðu+'c hành tra.ng

Trúc Lâm so+ To^?

Nhi. To^? Pháp Loa

Tam To^? Huye^`n Quang

Trúc Lâm d-e^. tu+' To^?

Thie^`n ho.c Vie^.t Nam

Tinh tha^`n dung hóa cu?a tu+ tu+o+?ng Vie^.t vo+'i chu+~ Lòng

Sri Aurobindo

Vô nha^'t d-a.i su+

Tam giáo do^`ng nguyên

Bưu hoa - tin t Vit Nam

Bưu hoa Việt Nam - Tiền tệ Việt Nam

Nhạc Phật giáo

Nhạc phẩm Phật hoàng Trần Nhân Tôn

Nhạc phẩm Hòa kính khiêm tu

Khối 8406

Ṭa Bạch ốc phản đối cộng sản Việt Nam

Báo chí Pháp đăng tin cộng sản Việt Nam đàn áp đối lập

 

  Đức Vua Trần Nhân Tông

-Tinh anh và tổng lực của tộc Việt-

 

 

 

Biên khảo : Trúc Lâm Phúc Lộc

(Quốc Lịch 4882, Phật Lịch 2546, ngày 16 tháng tư năm Quư Mùi tức 16/05/2003 dương lịch)

Chương Hai 

Đức Trần Nhân Tông

và cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất 1285

 

Trước khi đi vào đề tài chính, chúng ta cần duyệt sơ qua về binh lực đời nhà Trần của nước Đại Việt cũng như thực lực của đoàn quân xâm lăng Mông-cổ để thấy rằng tổ tiên chúng ta đă chiến đấu thật gian khổ với hùng tâm tuyệt vời và trí tuệ sáng suốt mới có thể chiến thắng được kẻ thù đông hơn chúng ta gấp nhiều lần. Thế giới ngàn đời sau đă cúi đầu bái phục với chiến công thần thánh này.

 

* Sự phối trí của quân lực Đại Việt:

 

Đời vua Trần thái Tông, Nhâm Dần, năm thứ 11 (1242 nhằm đời Tống, năm Thuần Hựu thứ 2), mùa xuân tháng 2, nước ta được chia làm 12 lộ (một h́nh thức tỉnh ngày nay). Về trai tráng, 18 tuổi là tiểu hoàng nam, 20 tuổi là đại hoàng nam.

 

Đại Cương Lịch Sử Việt Nam tập I trang 181 ghi về tổ chức hành chánh đời nhà Trần như sau:

Các địa phương tổ chức chính quyền ba cấp: phủ lộ, huyện châu, hương xă. Nhà Trần đổi 24 lộ đời Lư thành 12 lộ sau đây:

-         Thiên Trường (Nam Hà).

-         Long Hưng (Thái B́nh).

-         Quốc Oai (Hà Tây).

-         Bắc Giang (Bắc Ninh, Bắc Giang).

-         Hải Đông (Quảng Ninh và một phần Hải Dương).

-         Trường Yên (Ninh B́nh).

-         Kiến Xương (Đông Thái B́nh).

-         Hồng (phần Hải Dương).

-         Khoái (phần Hưng Yên).

-         Thanh Hóa (Thanh Hóa).

-         Hoàng Giang (phần đất Hà Nam).

-         Diễn Châu (Bắc Nghệ An).

Vào thế kỷ XIV c̣n đặt các phủ:

-         Lâm B́nh (Quảng B́nh và Quảng Trị).

-         Thái Nguyên (Bắc Cạn, Thái Nguyên, Cao Bằng).

-         Lạng Giang (Bắc Giang, Lạng Sơn).

 

Tháng 2 mùa xuân Bính-ngọ, thứ 15 (1246, Tống năm Thuần Hựu thứ 6), nước ta tổ chức quân đội chia làm thượng, trung, hạ. Tuyển mộ những người khỏe mạnh vào quân Tứ Thiên, Tứ Thánh, Tứ Thần. Lộ Thiên Trường và lộ Long Hưng, hiệu quân là Thiên Thuộc, Thiên Cương, Chương Thánh và Củng Thần; Hồng Lộ và Khoái Lộ, hiệu quân là Tả Thánh Dực và Hữu Thánh Dực; lộ Trường An và lộ Kiến Xương, hiệu quân là Thánh Dực và Thần Sách. Ngoài ra các loại quân khác được sung vào quân cấm vệ; c̣n hạng sau cùng là đội chèo thuyền. Theo Lịch Triều Hiến Chương của Phan Huy Chú chép rằng mỗi đội quân có 2400 người, quân cấm vệ cũng như ở các lộ khác không đầy mười vạn người. Tuy nhiên vào niên hiệu Thiệu bảo đời Đức Hoàng Đế Trần nhân Tông (1279-1289) lúc quân Nguyên sang xâm chiếm, quân lực nhà Trần đă quy tụ đến hai mươi vạn người. Cũng do các vương tôn quốc thích nhà Trần được tuyển mộ riêng binh lính của ḿnh để pḥng khi hữu sự. Cấm-quân từ đời Trần đă được đặt ra, sau này càng tăng thêm, số lượng bao nhiêu các quyển sử cũ không có ghi ra.

 

Tháng 2 năm Tân-sửu (1274) chọn những người có vơ nghệ, bổ vào làm Thượng-đô-túc-vệ.

 

Tháng 12 năm 1257, Mông-cổ xua quân xâm lấn nước ta lần thứ nhất. Thái tổ nhà Trần vua Trần Thái Tông thống lănh quân lực Đại Việt đánh bại quân thù ở Đông-bộ-đầu. Đời vua Trần Thánh Tông, Tân-dậu năm thứ 4 (1261, Tống năm Cảnh Định thứ 2; Mông-cổ năm Trung Thống thứ 2), vào mùa xuân tháng 2, tuyển mộ các dân đinh khỏe mạnh sung vào quân ngũ, c̣n những người khác vào làm ở các sảnh, viện, cục (một h́nh thức công chức), và sung vào đợi tuyển phong ở lộ, phủ, huyện. Nhâm-tuất, năm thứ 5 (1262, Tống năm Cảnh-định thứ 3;  Mông-cổ Trung-thống thứ 3), tháng 3 vua Trần Thánh Tông hạ chiếu cho quân đội tập trận ở băi Phù Sa sông Bạch Hạc (địa phận huyện Bạch Hạc, tỉnh Sơn Tây. Sông này phía trên giáp với sông Thao, sông Đà, phía dưới nối liền với sông Phú Thương), cuộc diễn tập này bao gồm cả thủy và lục quân.

 

Tháng 8 năm Đinh măo (1267 Tống năm Hàm Thuấn thứ 3; Mông-cổ năm Chí Nguyên thứ 4), định đội ngũ trong quân đội. Mỗi quân chia ra 30 đô (nghĩa là một khu vực lớn hơn ấp, ở đây là một đơn vị quân đội, gần bằng một đại đội), mỗi đô 80 người, chọn những người trong hoàng gia rành vơ nghệ và binh pháp ra cai quản.

 

Ngoài ra c̣n có quân Tứ-xương là những binh sĩ phải thay phiên nhau canh giữ bốn cửa thành. Tuy nhiên, quân Tứ-xương không thiện nghệ bằng quân cấm-vệ. Trong cuộc chiến vệ quốc lần thứ nhất chống quân Mông-cổ (Đinh tỵ 1257), nhà Trần c̣n có quân Tính-cương v́ vậy Thái tổ nhà Trần vua Thái Tông mới hỏi thái-úy Trần Nhật Hiệu rằng quân Tính-cương ở đâu?

 

An Nam Chí Lược của Lê Tắc trong quyển 14 phần Binh chế ghi rằng quân lính không có sổ bộ nhất định, tuyển chọn những người có sức khỏe sung vào quân đội, năm người làm một ngũ (Gồm chữ Nhân đứng bên cạnh chữ Ngũ. Nghĩa là dàn thành hàng ngang năm người gọi là ngũ, ư khác là một đội lính. Đó là lư do chữ Ngũ này có chữ Nhân đứng đi cùng và có 6 nét khác với chữ Ngũ là số 5 chỉ đứng một ḿnh chỉ có 4 nét), mười ngũ làm một đô (đô tương đương với một trung đội). Trong đây lựa hai người có khả năng ra để huấn luyện và chỉ huy quân lính. Để tiết kiệm ngân khố quốc gia, khi nước có biến những người này là lính, lúc thanh b́nh th́ họ được cho về quê làm ruộng. Cho nên quan niệm động vi quân tĩnh vi dân bắt đầu từ thời này vậy. Tổng quát có 3 loại binh chủng khác nhau gồm:

 

1/ Thân quân có Thánh-dực-đô, Thần-dực-đô, Long-dực-đô, Hổ-dực-đô, Phụng-vệ quan-chức đô (có nhiệm vụ tuần tra và bắt tội phạm. Các đô trên đều có tả hữu đô).

2/ Du quân có Thiết-lâm-đô, Thiết-hạm-đô, Hùng-hổ-đô, Vũ–an-đô.

3/ Gia-nhân của các Vương-hầu gồm Toàn-hầu-đô, Dước-đồng-đô, Sơn-liệu-đô v.v…Cấp tướng cai quản quân các đô phải là người trong hoàng tộc mà phải thông thạo vơ nghệ và binh pháp.

 

Về Bộ binh, bấy giờ quân Đại Việt có Cấm-quân và quân ở các lộ khác như trên vừa tŕnh bày, ngoài ra c̣n có chu-sư (tức hải quân) gồm các đoàn đội trạo-nhi là những người chèo thuyền đánh trận; các thuyền này có tên là «Kim-phượng», «Nhật-quang» và «Nguyệt-quang» mà tháng 10 năm Tân-sửu (1247), chính vua Trần thái Tông đi tuần-lược nơi biên giới bằng các thuyền trên vào tận các trại Vĩnh-an và Vĩnh-b́nh thuộc nước Tống. Về quân phục lúc bấy giờ ra sao, các sách sử không đề cập tới, riêng đạo quân của Trần khánh Dư ở Vân-Đồn có đội nón ma-lôi (thứ nón đan bằng nan dương tức thanh bi trúc do làng Ma-lôi ở Hồng-lộ nay là Hải dương chế tạo, nên gọi theo tên của làng ấy. V́ lâu ngày, tên riêng của nón trở thành tên chung, do đó chữ ma-lôi không viết hoa).

 

Đứng đầu bộ chỉ huy quân sự là một vị tiết-chế. Tiết chế được chỉ huy các quân binh chủng hải và lục quân trong nước, ngày nay tương đương là Tổng tham mưu trưởng, tuy nhiên vẫn phải dưới quyền điều động của hoàng đế đương kim (tương đương với Tổng tư lịnh tối cao quân đội). Các vị tướng quân th́ có phiêu-kỵ tướng-quân, là chức riêng phong cho các hoàng tử. C̣n trấn quốc tướng-quân, phó tướng-quân, cấm vệ tướng quân, chư vệ tướng quân…đều coi giữ việc binh. Kỷ luật của quân đội rất nghiêm minh, kẻ nào đào ngũ, bị quan bắt được th́ chặt ngón chân;  nếu tái phạm th́ phải bị voi đạp.

 

* Sơ lược về đạo quân viễn chinh của Mông-cổ:

 

Giống dân này sinh sống ở miền Bắc nước Tàu từ đời Đường năm 618 đến 901, họ chia ra thành từng bộ lạc, rải rác suốt phía Bắc Xa-thần-hăn thuộc nước Mông-cổ ngày nay và một phần dăy Tây-bắc tỉnh Hắc-long-giang hiện tại. Những người này sinh sống bằng nghề chài lưới, săn bắn và du mục. Đến đời nhà Kim, có một vị tù-trưởng tên là Hợp-Bất-Lặc đứng dậy, tự xưng là Tổ-nguyên hoàng-đế, đặt quốc hiệu là Đại Mông-cổ. Năm 1206 (năm Trị-b́nh-long-ứng thứ hai đời vua Lư Cao-Tôn), Thiết-Mộc-Chân (Témoudjine) bành trướng cương thổ, lên ngôi hoàng đế, xưng là Thành-cát-tư-hăn (Gengis-Khan).

 

Từ năm 1222 đến 1279, trải các đời vua Oa–khoát-thai (Ogotaï) có nơi chép là A-loa-đài chú thích là Agôtaï, Mông-kha (Mongké) và Hốt-tất-liệt (Koublai) có sách chép là Koubilaï, gót giày của đoàn quân Mông-cổ đă dẫm đạp lên đất Âu-châu đến ba lần và tiêu diệt nhà Tống năm 1257 và làm chủ hoàn toàn nước Tàu. Do đó cho ta thấy phạm vi ảnh hưởng của đế quốc này rất lớn: đông từ Cao-ly, tây đến Tiểu Á-tế-á (Asie mineure) và Nga-la-tư, nam tới Nam-hải và Ấn-độ dưong, bắc tới Tây-bá-lợi-á (Sibérie). Có thể nói đây là một đế quốc rộng lớn nhất trải dài từ Á sang Âu, chưa hề thấy trong lịch sử nhân loại.

 

Về quân đội của Mông-cổ được chia ra làm hai loại đó là quân túc vệ và quân trấn thủ. Quân túc vệ được chia làm quân khiếp-tiết và các vệ. Khiếp-tiết theo tiếng Mông-cổ là quân lính được ân sủng của nhà vua; c̣n các vệ là Tả, Hữu, Trung, Tiền, Hậu và Đường-ngột vệ, Quư-xích vệ, Vũ vệ, Tả-hữu–đô–úy vệ v.v… Quân khiếp-tiết th́ do khiếp-tiết trưởng cầm đầu, lệ thuộc trực tiếp dưới nhà vua hoặc dưới một vị quan lớn do nhà vua ủy quyền. Quân các vệ th́ có thân quân trấn thủ đều thuộc quyền Khu-mật-viện. Cho nên khiếp-tiết và các vệ tuy là quân túc-vệ họp lại gọi là thân quân, nhưng chức vụ hai bên có khác nhau : Khiếp-tiết, cốt bảo vệ nhà vua (Mông-cổ), là thân quân ở trong các thân quân. C̣n quân các vệ th́ cốt làm những việc canh gác hoàng-thành, đô thị, pḥng thủ, đồn điền, tuy nhiên họ cũng phải đi chiến đấu phương xa khi có nhu cầu đ̣i hỏi. Các quân trấn thủ: các lộ th́ lập vạn-hộ-phủ, các huyện th́ lập thiên-hộ sở đều lệ thuộc viện Khu-mật. Sự phối trí của quân trấn thủ c̣n tùy theo địa thế mỗi nơi. Dụ như các nơi biên cương, đều do các thân vương cầm binh đóng giữ như Hà-lạc và Sơn-đông là nơi xuất phát của họ nên giao cho «quân Mông-cổ» (đây là loại quân trong bản tộc Mông-cổ) và quân thám-mă-xích (quân trong các bộ tộc, một ư nghĩa khác đó là quân trấn thủ). Từ Giang, Hoài trở về phương Nam cho tới hết Nam-hải th́ đặt Hán-binh (là những người được tuyển dụng ở miền Bắc sau khi quân Kim bị diệt) và quân tân-phụ trấn (người ở miền Nam khi nhà Tống mất) giữ. Trong cuộc xâm lăng lần thứ nhất (1257), Mông-cổ điều động có hai ngàn quân loại này, đó là chưa kể các đạo quân Á-châu, con vua Nguyên, đi tiếp theo sau tiếp viện cũng như đạo quân của Ngột-lương-hợp-thai (Wouleangotaï) đóng ngay tại biên giới phía Bắc nước ta để uy hiếp.

 

Quân Mông-cổ đa số là những tay rành cỡi ngựa, bắn tên rất chính xác. V́ sinh sống ở vùng đất sa mạc nên họ quen chịu đựng cực nhọc, rất thích chiến tranh, cũng như rất hung bạo. Khi đánh các nước Âu-châu, họ đă sử dụng súng làm khí cụ chiến đấu đă gia tăng cường độ công kích của họ rất nhiều. Khi tiến vào thủ đô Pest của nước Hung-gia-lợi họ đă tàn sát đến 10 vạn người dân kinh thành này. Chúng đi tới đâu  th́ từ thành thị đến xóm làng dân chúng đều bỏ trốn cả, vườn tược, làng xóm, ngay đến ngọn cỏ cũng điêu tàn dưới gót giày của đoàn quân viễn chinh bạo ngược này đến nỗi Giáo-hoàng Innocent IV đă phải lên tiếng thống trách về những sự tàn sát và phá phách nói trên.

Bối cảnh dẫn đến cuộc chiến Việt Nguyên

Vua Trần Thánh Tông truyền ngôi cho thái tử Khâm. Thái tử lên ngôi xưng là Hiếu Hoàng, hiệu là Pháp Thiên Ngự Cực Anh Liệt Vũ Thánh Minh Nhân Hoàng Đế (tức là Nhân Tông), chính thức trị v́ đất nước Đại Việt năm 1279, lấy niên hiệu là Thiệu Bảo Nguyên Niên cũng gọi là Trùng Hưng. Vua Nhân Tông tôn vua cha là Quang Nghiêu Từ Hiếu Thái Thượng Hoàng đế và tôn Thiên Cảm Hoàng Hậu là Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái Hậu. Ngài là người hâm mộ đạo Phật ngay từ lúc thiếu thời, ư chí mong muốn xuất gia đầu Phật mà thôi. Tuy nhiên, giữa lúc đất nước Đại Việt đang trong cơn thử thách trước mưu đồ xâm lăng của nhà Nguyên ngày càng rơ rệt, th́ ngài đă vận dụng hết cả tâm thành để cưu mang xă tắc.

 

Sau khi tiêu diệt nhà Tống vào năm 1279 (quân Tống bị đánh úp ở Nhai Sơn phía Nam huyện Tân Hội tỉnh Quảng Đông Trung Quốc), kết thúc bằng sự kiện tả thừa tướng Lục Tú Phu cơng vua Tống nhảy xuống biển chết vào mùa Xuân cùng hằng vạn quân dân nhà Tống khác (cũng là năm vua Nhân Tông lên ngôi), Hốt Tất Liệt, Nguyên Thái Tổ đă chuẩn bị binh sĩ cũng như cho đóng thêm chiến thuyền để xâm lăng nước ta. Để tránh bị thất bại như lần trước vào năm 1258, khi bị Thái tổ Trần Thái Tông đánh bại, quân Nguyên dự trù mở ba mặt trận làm thế gọng kềm hầu đè bẹp nước Đại Việt của chúng ta. Chúng dự định đem quân đánh chiếm Chiêm Thành làm gọng kềm phía Nam, phối hợp với hai hướng tiến quân phía Đông Bắc và Tây Bắc, từ dưới đánh lên và phía trên cho quân tràn xuống với khí thế vô cùng hung liệt. Có một điều chúng đă không dự tính trước, đó là gặp phải một nhà lănh đạo quân sự đại tài đă thống lănh quân dân Đại Việt đoàn kết một ḷng giáng trả những đ̣n quyết liệt nhất đánh bại hoàn toàn mưu toan xâm lược nước ta vào thủa đó, vị lănh đạo quân sự tài giỏi không ai khác hơn là Đức vua Trần Nhân Tông.

 

Thái tổ nhà Trần vua Thái Tông băng hà năm Bảo Phù thứ 5, 1277, thọ 6o tuổi, trị v́ 33 năm. Nghe tin Thái tổ nhà Trần viên tịch (lúc đó vua Thái Tông cũng đă xuất gia), nhà Nguyên muốn lợi dụng nước ta đang có tang muốn đem quân sang xâm chiếm nước ta, tháng 11 nhuần bèn sai Lễ Bộ Thượng Thư Sài Thung từ Giang Lăng đi thẳng đến Ung Châu sang nước ta. Khi nghe tin này, vua Nhân Tông đ̣i hỏi Sài Thung phải đi theo con đường cũ, nghĩa là đường Thiện Xiển, Vân Nam mà các phái đoàn ngoại giao của Tàu vẫn sử dụng trước đây viện cớ là dân chúng ở vùng biên giới sợ hăi v́ không biết đoàn người của xứ nào đến. Sài Thung chẳng những không nghe theo lời khuyến cáo mà hắn c̣n ngang ngược đ̣i hỏi phải đón sứ bộ ngoại giao của chúng «Thượng thư bộ Lễ và các quan vâng lệnh trên cùng bọn Lê Khắc Phục của bản quốc do Giang Lăng đến Ung Châu để vào An Nam. Nếu có quân binh dẫn đường hộ tống th́ nên theo ngựa trạm đến đầu biên giới xa đón». Vua Nhân Tông chẳng những xem thường lời đe dọa đó mà ngài c̣n từ chối đồng thời gởi các sứ thần như Trịnh Đ́nh Toàn, Đỗ Quốc Kế sang Tàu để lư luận. Nhà Nguyên đă bắt giữ sứ giả của ta là Trịnh Đ́nh Toàn không cho trở về. Theo An-Nam truyện của Nguyên sử, vua Nhân Tông đă phái Phạm Minh Tự, Trịnh Đ́nh Toàn, Đỗ Quốc Kế đem thơ sang nhà Nguyên viện cớ từ chối sang chầu, nội dung như sau:  «Cô thần bẩm khí yếu đuối. Vả lại đường xá khó khăn, chỉ luống phơi xương trắng làm cho Bệ Hạ phải xót thương mà không ích lợi ǵ cho triều đ́nh trong muôn một. Cúi mong bệ hạ xót thương tiểu quốc xa xôi, khiến cho thần cùng những kẻ quan quả cô độc giữ được tính mạng, để suốt đời phụng sự bệ hạ. Đó là điều may lớn cho cô thần cũng là phước lớn cho sinh linh» -Toàn Tập Trần Nhân Tông, Lê Mạnh Thát việt dịch-.

 

Lời chiếu của Hốt Tất Liệt như sau: «Nước ngươi nội phụ đă hơn 20 năm. Sáu việc vừa rồi c̣n chưa thấy theo. Ngươi nếu không chầu th́ hăy sửa thành tŕ của ngươi, chỉnh đốn quân đội ngươi để đợi quân ta (…) Cha ngươi đă nhận lệnh ta làm vua. Ngươi không xin lệnh mà tự lập, nay lại không chầu. Ngày sau triều đ́nh gia tội th́ lấy ǵ mà trốn?». Vua Nhân Tông đă mở tiệc tiếp sứ nhà Nguyên ở điện Tập Hiền. Tại nơi đây đă diễn ra cuộc đấu trí ngoại giao giữa một vị vua trẻ tuổi tài ba với tên sứ giả hung hăng hống hách đại diện cho một nước Mông Cổ đang xưng bá cả ṿm trời Âu Á vào lúc đó.

 

Trước những lời lẽ vừa đe dọa vừa chiêu dụ của quân Mông Cổ, muốn cho ngài phải khuất phục, nhưng vua Nhân Tông vẫn dùng sự mềm mỏng đối đáp hầu kéo dài thời gian để củng cố lực lượng chống giặc cho hiệu quả, nên đă viện dẫn cho chuyện từ chối sang chầu bên tàu với vua Nguyên bằng sự kiện Thái tổ nhà Trần vừa băng hà, bản thân lại mới lên ngôi vua; ngài c̣n nhắc vua nhỏ của Tống c̣n được thương xót mà tha và phong cho tưóc công, hy vọng rằng chúng tôi cũng được như vậy; Vua Nhân Tôn c̣n nhắc thêm trước đây nước Tàu có miễn cho Đại Việt 6 điểu trong đó có việc phải sang hầu. Ngài c̣n nói thêm v́ đường xá xa xôi, bản thân lại sinh trưởng chốn thâm cung không quen cởi ngựa, e đường xa khó mà chịu đựng được. Chẳng những bản thân ngài không muốn đi mà ngài cũng không chấp thuận cho những vị hoàng thân quốc thích khác phải đi v́ những người này cũng như ngài không khác.

 

Sài Thung phản ứng lại nói rằng vua Tống mới 10 tuổi nhưng vẫn đến được Đại Đô (thủ đô của nhà Nguyên), bản thân của y ngoài việc đem chiếu chỉ tới th́ không c̣n việc ǵ khác. Hắn c̣n nói rằng tới để mời ngài sang chầu chứ đâu có lấy của cải ǵ đâu.

 

Tháng 3 năm 1279, đoàn người của Sài Thung về đến Đại Đô và báo cáo việc vua Nhân Tông từ chối sang chầu, th́ khu mật viện (bộ quốc pḥng) đă đề nghị với Hốt Tất Liệt mở cuộc tấn công sang nước ta. Tuy nhiên, vua Nguyên chưa chấp thuận và cho sứ giả của ta vào chầu và tŕnh thư. Tháng 11, nhà Nguyên giữ sứ giả của Đại Việt là Trịnh Quốc Toản ở lại Đại Đô, rồi ra một cái thư khác với nhiều đ̣i hỏi khác với phái đoàn của Sài Xuân (Thung) trở lại nước ta. Lần này lời lẽ càng gia tăng trọng lượng, như phải cống người vàng cùng ngọc trai, cộng với những nhà trí thức cũng như các tay thợ lành nghề mỗi hạng hai người, nếu không đáp ứng được những điều kiện này th́ đất nước ta phải bị dày xéo dưới gót giày xâm lược của quân Nguyên.

 

Sau các lần tiếp kiến sứ thần và nước ta nhiều lần từ chối đi chầu bên nhà Nguyên, Đức vua Nhân Tông ư thức được rằng cuộc chiến sẽ không thể nào tránh được. Nên ngài ráo riết chuẩn bị về mọi mặt của đất nước, để đối phó với kẻ thù.

 

Về nội trị : Là một vị vua có ḷng thương dân và sáng suốt, vua Trần Nhân Tông đă suy nghĩ tới một việc làm đầu tiên và cần thiết để ổn định cũng như đoàn kết trong dân chúng bằng chính sách đại xá cho thiên hạ vào ngày 1 tháng 1 năm 1279 (Tống Tường Hưng năm thứ 2, Nguyên Chí Nguyên năm thứ 16). Chính sách này, đă có tác dụng lớn là quy tụ được mọi tầng lớp người dân để chống giặc Nguyên khi chúng tràn sang xâm lược nước ta. Đức ngài đă đích thân giải quyết vụ kiện tụng của dân chưa được xử xong ngay giữa đường đi bằng cách truyền cho quan Chánh trưởng nội thư hỏa Trần Hùng Thao kiêm chức kiểm pháp quan để chuẩn định. Trong lúc này Trịnh Giác Mật ở đạo Đà Giang nổi dậy chống triều đ́nh, Chiêu văn Vương Trần Nhật Duật được sai đi dụ hàng và đă đem họ Trịnh cùng vợ con về chầu Đức Hoàng Đế mà không hao tổn một người lính. Ngài cũng ban hành cách thức đo đạc bằng thước gỗ, thước lụa vào tháng giêng mùa xuân, tháng 2, 1280 kiểm kê dân số trong nước (lập sổ dân đinh) để nắm vững nhân lực nước nhà dự trù cho thời gian sắp tới. Mùa đông, tháng 10 nước ta trúng mùa lớn, ruộng lúa ở Trà Kiều thuộc Khoái Lộ một ṛ nở hai bông nhờ ở chính sách khuyến nông ngay lúc mới lên chấp chính, và qua đó chúng ta có đủ lương thực dự pḥng cho cuộc chiến sắp xảy ra nay mai.

 

Về ngoại giao: ngoài những cuộc đấu trí cũng như lư luận với sứ giả Nguyên triều để tránh việc phải làm nhục quốc thể (như việc đích thân nhà vua phải sang chầu nhà Nguyên) cũng như kéo dài thời gian để chuẩn bị tốt thực lực hầu đối phó với cuộc chiến không thể tránh khỏi, triều đ́nh nước ta dưới sự lănh đạo của Đức Hoàng Đế Trần đă có sự giao hảo rất tốt đẹp với láng giềng phương Nam đó là Vương quốc Chiêm Thành. Ngay trong tháng giêng năm Thiệu Bảo thứ nhất (1279), các viên quan Chế Năng và Chế Diệp được vua Chiêm phái mang đồ cống sang nước ta và họ đă xin được ở lại triều đ́nh nước Việt để phục vụ, nhưng ngài đă khéo léo từ chối để giữ ḥa khí với nước láng giềng. Chẳng những thế vào tháng 12 năm Chí Nguyên thứ 16 (1279), vua Nhân Tông c̣n ra lịnh gởi 20 ngàn quân cùng 500 chiến thuyền sang tiếp viện cho Chiêm Thành đang bị quân Nguyên tấn đánh. Sự kiện này trong các bộ sử nước nhà không thấy đề cập tới, tuy nhiên theo lời ghi của Giáo sư Lê Mạnh Thát, nó được ghi trong An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 5b3-8 và điều đó đă tác dụng mạnh hơn trong quyết định của Hốt-Tất-Liệt xua quân tấn chiếm nước ta. Ở đây hành động này cho chúng ta thấy quyết định rất sáng suốt và táo bạo nhưng không liều lĩnh của Đức Hoàng Đế triều Trần trong việc trợ chiến cho Chiêm Thành chống lại quân Mông-cổ. Nếu triều đ́nh Đại Việt không tiếp viện cho Chiêm Thành th́ ta sẽ bị mang tiếng ích kỷ và nhu nhược, hơn nữa khi nước láng giềng phương Nam bị chiếm đóng th́ nước chúng ta lại càng dễ dàng bị nhà Nguyên lấn chiếm hơn. Do đó để giữ ǵn tư thế của một nước có truyền thống văn hiến, ta đă giúp đỡ người láng giềng đang bị nguy khốn, giúp cho người cũng như giúp cho ḿnh, ngoài ra ta c̣n tranh thủ thêm một đồng minh trong nỗ lực chống sự xâm lược của quân Mông-cổ mà ta biết rằng không thể nào tránh khỏi. Đây là một quyết định rất sáng suốt sẽ có tác dụng rất lớn trong thời gian tới.

 

An Nam truyện ghi lại hành động của triều đ́nh ta giúp đỡ Chiêm Thành như sau: «An phủ sứ Quỳnh Châu Trần Trọng Đạt nghe Trịnh Thiên Hựu nói Giao Chỉ thông mưu với Chiêm Thành, sai quân 2 vạn và thuyền 500 chiếc để làm ứng viện». Đức vua trả lời rằng: «Chiêm Thành là một nội thuộc của tiểu quốc, th́ khi đại quân đến đánh, đúng ra đại quốc phải tỏ ḷng thương xót, nhưng chưa từng dám nói ra một lời, bởi v́ tiểu quốc biết thời trời việc người vậy. Nay, Chiêm Thành lại làm phản nghịch, chấp mê không chịu quay lại th́ đúng là đứa không biết trời, biết người. Người biết trời biết người mà trở lại cùng mưu với đứa không biết trời biết người th́ dù là trẻ con bé tí cũng biết là việc không thể xảy ra. Huống nữa là tiểu quốc ư? Xin quí hành tỉnh biết cho». -Lê Mạnh Thát, Toàn Tập Trần Nhân Tông-.

 

Năm Tân Tỵ, Thiệu Bảo thứ 3 (1281) triều đ́nh nước ta cử Trần Di Ái (tức Trần Ái, chú họ của nhà vua) cùng Lê Mục, Lê Tuân sang Nguyên thay thế cho vua (trước đây nhiều lần nhà Nguyên khuyến dụ vua nước Việt sang chầu mà không được, chúng đổi cách bảo rằng phải đem vàng ngọc để thay người, đồng thời phải nộp thợ giỏi mỗi hạn hai người). Khi ấy nhà Nguyên lập ty tuyên phủ ở nước ta, phái Bốc Than Thiếp Mộc Nhi (Buyan Tamur) trông coi cũng như đặt liêu riêng, dĩ nhiên nước ta không chấp nhận sự áp đặt này. Vua Nguyên bực tức mới sắc phong cho Trần Di Ái làm Lăo hầu, Lê Mục làm Hàn lâm học sĩ, Lê Tuân làm Thượng thư (theo An Nam Chí Lược và Nguyên sử chép rằng…Trần Di Ái làm An Nam Quốc Vương, Lê Mục làm Hàn lâm học sĩ, Lê Tuân làm Thượng thư…), rồi cho Sài Thung đem 1000 quân hộ tống Di Ái về nước. Đức vua của Đại Việt đă cho quân chận đánh và giết chết đoàn người này ở gần ải Nam Quan, Sài Thung (hay Xuân) bị trúng tên ḷi con mắt phải bỏ chạy trốn về Nguyên. C̣n nhóm việt gian Di Ái bị bắt và đày làm khao giáp binh ở Thiên Trường, Lê Tuân làm Tống binh (quân Tống lưu vong được nhà Trần cho tỵ nạn trên xứ ta). Thế là âm mưu của nhà Nguyên nhằm lập chánh phủ tay sai để khống chế nước ta đă bị thất bại ngay từ trong trứng nước.

 

Mùa thu tháng 8 năm 1283, viên tướng trấn thủ biên cương Lạng Châu (Lạng Sơn) là Lương Uất cấp báo về triều đ́nh rằng, Hữu thừa tướng nhà Nguyên là Toa Đô (Sôgatu) đem 5000 quân mượn đường nước ta sang đánh Chiêm Thành, thực ra chỉ là cái cớ để xâm lăng Đại Việt. Tháng 10, Đức Hoàng Đế Trần Nhân Tông tổ chức một hội nghị tại bến đ̣ B́nh Than, vũng Trần Xá (chỗ gặp nhau của hai con sông Thái B́nh và Kinh Thầy. Nơi nầy về sau vẫn c̣n xă gọi là Trần Xá) ở địa phận xă Trần Xá, huyện Chí Linh. Hội nghị đă quy tụ hầu hết các vương thân quốc thích và cũng là các hàng lănh đạo quân sự, mục đích tổ chức nhằm bàn kế chống giặc ngoại xâm cũng như thắt chặt thêm tinh thần đoàn kết chiến đấu của toàn thể triều đ́nh chúng ta. Tại đây ngoài việc bàn kế chống giặc, vua Nhân Tông đă phục chức Trần Khánh Dư làm Phó đô tướng quân, một phẩm hàm đă bị tước đi khi ông phạm lỗi và phải lui về làm nghề bán than ở Chí Linh (xưa là đất Bàng Châu, cũng gọi là Bàng Hà, khi quân Minh chiếm nước ta chúng đổi thành huyện Chí Linh, sau đó nhà Lê vẫn xử dụng tên cũ không thay đổi, này nay nó thuộc tỉnh Hải Dương). Có một điểm khá nổi bật là, tất cả mọi người đến B́nh Than đều được tham dự hội nghị, duy có Hoài Vương Hầu Trần Quốc Toản v́ c̣n nhỏ tuổi đă không được tham dự. Ông đă bóp nát trái cam trong tay lúc nào không hay để tỏ ư chí quyết tâm chống giặc ngoại xâm. Khi lui về, ông đă quy tụ người nhà thành một đạo quân hơn ngàn người, trang bị khí giới, chiến thuyền, gương cao lá cờ «Phá Cường Địch Báo Hoàng Ân». Khi lâm trận chống quân Mông-cổ, lúc nào ông cũng đi đầu diệt giặc, khiến chúng phải e dè, không dám đối đầu mà phải lẫn tránh. Vào tháng 10 năm đó, Đức Hoàng Đế sắc phong Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải làm Thượng tướng Thái sư (vị quan đứng đầu triều đ́nh, chỉ huy cả hai bộ phận văn và vơ), Đinh Củng Viên làm Hàn lâm học sĩ phụng chỉ (vị quan đứng đầu viện văn học trông coi việc soạn thảo các loại chế, cáo, chiếu chỉ của nhà vua).

 

Tháng 7 mùa thu năm 1283, triều đ́nh Đại Việt cử quan Trung phẩm Hoàng Ư lệnh, nội thư gia Nguyễn Chương đi sứ nhà Nguyên. Tháng 10 hai vị sứ giả của chúng ta trở về báo rằng nhà Nguyên sai thái tử Trấn nam vương Thoát Hoan (Toghan) và b́nh chương A Lạt (Ariq-Qaya) quy tụ 50 vạn quân ở hai tỉnh Hồ Quảng chuẩn bị tràn vào xâm lăng nước ta. Khi nhận được tin này, theo An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 5al-b3, Đức vua đă gởi thơ cho A Lạt đ̣i trả các sứ giả đang bị giam giữ. A Lạt được sự chấp thuận của vua Nguyên trực tiếp trả lời và sai đạt lỗ hoa xích của Ngạc Châu là Triệu Chử cầm thư sang nước ta. Khi Triệu Chử tới vào tháng 11, Đức Hoàng đế đă sai trung lượng đại phu Đinh Khắc Thiệu, trung đại phu Nguyễn Đạo Học v.v…đem vật cống cùng Triệu Chử trở về Tàu gặp Hốt-tất-liệt. Song song, Đức ngài đă phái trung phụng đại phu Phạm Chí Thanh cùng triều thỉnh lang Đỗ Bào Trực đem thư đến gặp A Lạt trả lời về việc tại sao triều đ́nh nước ta đă không cho họ mượn đường, giúp quân, giúp lương thực cũng như không sang chầu vua nhà Nguyên. Đồng thời ta cũng biết thêm rằng quân Nguyên đă tụ họp 50 vạn quân ở 2 tỉnh Hồ Quảng dự định sang năm sẽ tấn công nước ta.

 

Trong văn thư gởi đến B́nh chương chính sự của Kinh hồ Chiêm Thành hành tỉnh là A Lạt vào tháng 11 năm Chí Nguyên thứ 20 (1284) vua Nhân Tông nói rằng: «…việc thêm quân, th́ Chiêm Thành thờ phụng tiểu quốc lâu ngày. Cha tôi chỉ vụ lấy đức mà giữ họ. Đến thân của kẻ côi này cũng kế thừa chí hướng của cha ḿnh. Từ khi cha tôi thuận về với thiên triều 30 năm đến nay, vũ khí can qua tỏ ra không cần dùng tới, quân lính bỏ về làm dân…C̣n việc giúp lương, th́ địa thế tiểu quốc tiếp giáp với biển, ngũ cốc không sản xuất nhiều. từ khi đại quân đi rồi, trăm họ vẫn c̣n trôi dạt. Thêm vào đó, bị lụt hạn, sáng no, chiều đói, ăn uống vẫn không đủ…C̣n việc tiếp tục bảo cô tử tự thân đến cửa khuyết, gặp mặt đức vua…, th́ lúc cha già của thần c̣n sống, thiên triều đă thương xót mà bỏ ra ngoài tính toán…Huống nữa, kẻ côi này sinh trưởng ở nơi xó xa, chẳng chịu nóng lạnh, chẳng quen thủy thổ, đường xá khó khăn, chỉ phơi xương trắng…Chỉ mong riêng v́ ḷng thương giúp, mà tâu bày với thiên triều…».

 

Qua thơ này đă cho ta thấy khí tiết cũng như độ lượng của Đức Hoàng Đế của chúng ta đang phải đối phó với một kẻ địch hung hăng bạo ngược song song ngài c̣n tố cáo sự động binh bất chánh để xâm lược Chiêm Thành của nhà Nguyên đồng thời nêu cao truyền thống văn hiến chi bang lấy đức phục người của vị Thái tổ nhà Trần mà ngài là người đang nối nghiệp. Đồng thời từ chối việc cho mượn quân qua câu nói : «vũ khí can qua tỏ ra không cần dùng tới». C̣n về việc mượn lương th́ bảo rằng v́ dân chúng c̣n đói khổ sau cuộc tấn công lần trước của quân Mông-cổ nên lương thực rất là thiếu thốn không thể tiếp viện được cho đoàn quân viễn chinh. Việc đích thân phải sang Tàu để chầu Hốt-tất-liệt th́ Người viện dẫn sức khỏe cũng như phong thổ không thích hợp sợ rằng bịnh và chết xa quê nhà. Sự biện dẫn cũng như lư luận quá hợp t́nh hợp lư của ngài đă khiến quân Mông-cổ không bắt bẻ ǵ được. Chúng chỉ c̣n việc xua quân tràn xuống phía Nam để chiếm nước ta mà thôi. Những đ̣i hỏi của Hốt-Tất-Liệt thực ra chỉ là cái cớ xâm lăng; nếu Đức Hoàng Đế Trần Nhân Tông chấp nhận các đ̣i hỏi mượn đường, tiếp lương, sang chầu th́ vừa nhục quốc thể mà đất nước lại càng dễ dàng rơi vào ṿng nô lệ của quân thù. Khi từ chối sự đ̣i hỏi của chúng, ít ra triều đ́nh ta dưới sự lănh đạo của Đức vua đă giữ ǵn được quốc thể, đồng thời với sự chuẩn bị kỹ càng chống giặc ngoại xâm đă lần lượt đưa tới những chiến thắng rực rỡ từ đây cho tới những thời gian tới mà ta sẽ lần lượt nghiên cứu.

 

Cũng theo An Nam truyện của Nguyên sử th́ vào tháng 10, Hốt-tất-liệt đă cử Đào Bỉnh Trực đem thơ của chính hắn sang gặp triều đ́nh ta. Lá thư này hiện tại không c̣n nhưng theo giáo sư Lê Mạnh Thát th́ «nội dung chắn chắn là những lời đe dọa». Cho nên mùa Đông tháng 10 năm 1283, Đức Hoàng đế Trần đă đích thân cùng với các vương hầu mở cuộc tập trận lớn bao gồm cả thủy và lục quân. Ngài cũng bổ dụng Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn làm Quốc công, tiết chế thống lĩnh tất cả các sắc quân (tương đương với Tổng tham mưu trưởng ngày nay), chọn trong hàng tướng lănh người nào có khả năng vơ nghệ th́ cho ra chỉ huy từng bộ phận. Trong Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục th́ ghi rằng tháng 8, mùa thu Đức Hoàng đế tổ chức duyệt binh cũng như hạ lệnh cho Hưng đạo vương điều khiển các sắc quân của vương hầu.

 

Tháng 5 nhuần Đức Hoàng đế Trần cử phái đoàn ngoại giao do Trần Khiêm Phủ cầm đầu sang Tàu để xin hoăn binh theo An Nam Chí Lược đă ghi. Phái đoàn ngoại giao của ta đă đem chén ngọc, b́nh vàng, chuỗi châu, lĩnh vàng, vượn trắng, chim cưu xanh và vải vóc để làm quà cống.

 

Tuy nhiên trong Đại Việt Sử Kư Toàn Thư (gọi tắt là Toàn Thư) và Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (viết tắt là Cương Mục) ghi lại sự kiện này vào tháng 11 phái bộ khởi hành và tháng 12 trở về nước. Người viết cũng đồng ư với giáo sư Lê Mạnh Thát là trong ṿng 2 tháng phái đoàn ngoại giao của ta không thể vừa đi vừa về kịp lúc được. Tiếp theo phái bộ nói trên c̣n có đoàn người của Đoàn Án và Lê Quư. Chưa hết, tới tháng 7, phái bộ Nguyễn Đạo Học cũng lên đường sang Tàu nối tiếp sứ mạng tŕ hoăn chiến để cho nhà Trần có đủ thời giờ cho bố trí binh mă cũng như chuẩn bị cần thiết cho cuộc đại chiến với quân nhà Nguyên.

 

* Mời xem tiếp Chương Ba ->

 

 

 

 

 email: truclamyentu.ifrance.com

Trúc Lâm Yên T @ 04/2004