Nhóm Nghiên Cứu và Phổ Cập Tinh Thần Trúc Lâm Yên Tử

Tấm lòng

Mục đích thành lập nhóm Nghiên cứu nhằm phổ biến tinh thần Hòa quang đồng trần do ngài Điều Ngự Giác Hoàng…(xin mời đọc tiếp) 

 

Văn hóa tộc Việt

Tư tưởng nhân quyền của tộc Việt

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn lấy chí nhân mà thay cường bạo

Khai bút đầu năm Ất dậu 2005...

 

Dòng s

Đức vua Trần Nhân Tông

Chiến thắng Vân Đồn

Chiến thắng sông Bạch Đằng

Những hư cấu liên quan đến các vị vua thời nhà Trần (12)

Chân dung đức Thánh Trần

Vua Trần Nhân Tông-Anh hùng dân tộc kiêm triết gia thi sĩ

Đại Việt sử ký khảo luận (từ thời lập quốc đến thế kỷ 21)

Giới thiệu Việt sử đại cương

Bảo nghĩa hầu Trần Bình Trọng

Quang Trung hoàng đế

Nghiên cứu biên giới Việt Trung 

Mo^.t cuo^'n ngo.c pha? nhie^`u gia' tri. li.ch su+?

Go.i ho^`n Quo^'c To^? ...

 

Dòng s cn đại

Quân sử Việt Nam 

Tìm mo^.t Gandhi cho Vie^.t Nam

Nguo+`i lính Nguye^~n Xuân Phúc

 

Tư tưng Pht giáo

Đường về cõi Phật

Phật

Xuân Di Lặc xuân thái bình

Kính mừng đức Phật đản sanh

Chữ NHÂN

Hành trạng vô úy của Phật giáo Việt Nam

Khánh Đản 745 năm của đức Điều Ngự

Mahatma Gandhi

Tuyên ngôn d-o^.c la^.p cu?a nu+o+'c D-a.i Vie^.t

Pha^.t giáo Vie^.t Nam

Ða.i Vie^.t Chu+ Tôn Ðu+'c hành tra.ng

Trúc Lâm so+ To^?

Nhi. To^? Pháp Loa

Tam To^? Huye^`n Quang

Trúc Lâm d-e^. tu+' To^?

Thie^`n ho.c Vie^.t Nam

Tinh tha^`n dung hóa cu?a tu+ tu+o+?ng Vie^.t vo+'i chu+~ Lòng

Sri Aurobindo

Vô nha^'t d-a.i su+

Tam giáo do^`ng nguyên

Bưu hoa - tin t Vit Nam

Bưu hoa Việt Nam - Tiền tệ Việt Nam

Nhạc Phật giáo

Nhạc phẩm Phật hoàng Trần Nhân Tôn

Nhạc phẩm Hòa kính khiêm tu

Khối 8406

Ṭa Bạch ốc phản đối cộng sản Việt Nam

Báo chí Pháp đăng tin cộng sản Việt Nam đàn áp đối lập

 

  Đức Vua Trần Nhân Tông

-Tinh anh và tổng lực của tộc Việt-

 

 

 

Biên khảo : Trúc Lâm Phúc Lộc

(Quốc Lịch 4882, Phật Lịch 2546, ngày 16 tháng tư năm Quư Mùi tức 16/05/2003 dương lịch)

Chương Chín

Chiến thắng sông Bạch Đằng,

một chiến tích lẫy lừng thiên niên kỷ

Theo đường lối chỉ đạo cuộc chiến của Đức vua Trần Nhân Tông là rút lui, pḥng ngự và phản công chiến lược như đă tŕnh bày ở các chương trước, th́ nay ở cuộc chiến thứ hai (thứ ba từ khi nhà Trần nắm vận mệnh của đất nước) quân ta đang ở thế pḥng ngự và đang chuyển sang thế phản công. Với đường lối này, khi quân Nguyên tấn công vào nước ta, chúng đă không chạm tráng được với những cánh quân lớn của ta hơn nữa lại phải ngược xuôi truy đuổi hai vua nhưng cũng chẳng đạt được kết quả khích lệ nào cả. Những trận đụng độ mà ta đă thấy cũng chỉ là những trận đánh cầm chừng dụ địch vào sâu trong vùng đất mà ta đă định sẳn đồng thời rút lui bảo toàn lực lượng. Những nơi mà quân Nguyên chiếm được chỉ là những địa điểm, thành quách trống trơn, c̣n các vị lănh đạo tối cao của triều đ́nh, trong đó có hai vua cùng đại đa số binh sĩ của quân đội Đại Việt th́ bặt vô âm tín. Tức giận v́ không đạt được một thành quả chiến lược nào, Ô Mă Nhi khi tấn công vào phủ Long Hưng (nơi có tôn trí mộ bia của tổ tiên nhà Trần), hắn đă ra lịnh đào xới phá hủy cũng như giết chóc, tàn sát một cách dă man những người dân của chúng ta ở quanh nơi đó, hắn c̣n thề độc «các ngươi (ám chỉ hai vua) có chạy lên trời, có chun xuống biển ta cũng quyết rượt theo để bắt cho bằng được». Dù hung hăng bạo ngược đến đâu hắn cũng đă không thực hiện được những ư đồ ngông cuồng nói trên. Có lẽ anh linh của vị Thái Tổ nhà Trần hiển linh để trừng phạt hắn xúc phạm đến nơi an nghĩ của ngài, khiến sau này Ô Mă Nhi rơi vào tay quân ta và phải đền tội ác.

Quân Nguyên rút về Tàu chia thành nhiều hướng khác nhau. Ngày 3 tháng 3 năm Mậu Tư (1288), Hữu Thừa Tŕnh Bằng Phi, Thiên Tỉnh Đạt Mộc thống lĩnh kỵ binh đi rước các cánh quân di chuyển bằng đường thủy, có lẽ đi đón đoàn thuyền của Trương Văn Hổ hay chăng, một cơ hội chót trước khi rút về nước? Tuy nhiên khi qua chợ Đông-Hồ th́ bị cản trở bởi ḍng sông phải lui trở về đường cũ th́ cầu cống đă bị quân nhà Trần bám theo sau phá hủy. Túng thế, trước mặt th́ bị quân ta cản trở, sau lưng là chướng ngại thiên nhiên, đoàn quân thiện chiến của chúng đă bị dồn vào giữa. Tiếc rằng ta không đủ lực lượng để bao vây và tiêu diệt kẻ thù, nếu không cánh quân này khó lọt được ṿng vây nếu không dọ hỏi được những người dân của ta bị chúng bắt làm tù binh. Cho nên vào nửa đêm chúng đă lẻn đột phá ṿng vây chạy trốn theo con đường khác họp với một cánh quân Nguyên đang rút lui để cùng nhau ra khỏi ải Nội-Bàng. Tuy bị bất ngờ bởi sự thay đổi lộ tŕnh của chúng, quân đội nhà Trần vẫn bám theo đánh vào cánh quân đi sau của chúng. Tướng Nguyên là Vạn-Hộ Đáp-Thứ-Xích và Lưu-Thế-Anh phải dẫn quân lính quay trở lại  phía sau chống đánh với quân ta. Không may các vị tướng nhà Trần chỉ huy đoàn quân tập kích vào quân thù là Tướng quân Phạm-Trù và Nguyễn-Kỵ đă bị chúng bắt được và đem giết đi.

Ngày 7 tháng 3 năm 1288, cánh quân Mông-cổ rút bằng đường biển đi tới Trúc-Đông, tại đây quân nhà Trần đă chận đánh chúng, nhưng không thành công. Tướng Nguyên là Lư-Khuê chỉ huy cánh quân này đánh bật sự tấn công của quân ta và tịch thu được 20 chiến thuyền.

Ngày 8 tháng 3 năm 1288, cánh quân do Ô Mă Nhi chỉ huy không rút về bằng đường biển mà chúng xử dụng con sông Bạch Đằng mà đi, chúng nghĩ rằng, đường biển đă bị hải quân nhà Trần vây chặt c̣n đường sông th́ ta không pḥng hờ nếu rút lui như thế và một nguyên do khác đó là, với con sông Bạch Đằng này nối liền với nội địa Tàu bằng thủy lộ. Lịch Sử Việt Nam tập 1 ghi về sông Bạch Đằng như sau: «Bạch Đằng là một sông lớn do sông Đá Bạc, sông Giá và nhiều nhánh sông khác đổ vào. Ḍng sông rộng mênh mông, bên phải có dăy núi đá vôi Tràng Kênh ăn sát bờ, bên trái rừng cây um tùm che lấp bờ bên kia.

Theo kế hoạch Trần Quốc Tuấn, quân dân ta, đẵn gỗ lim, gỗ tàu trên rừng về, đẽo nhọn cắm xuống tạo thành một băi chướng ngại vật lớn. Chiến thuật của Ngô Quyền từ thủa phá quân Nam Hán lại một lần nữa được vận dụng sáng tạo trong cuộc kháng chiến chống Nguyên. Ghềnh Cốc là một dải đá ngầm chạy ngang qua sông Bạch Đằng phía dưới của sông Chanh, có thể được lợi dụng như một chướng ngại vật thiên nhiên để phối hợp với băi cọc, ngăn chận chiến thuyền địch khi nước triều xuống. Thủy quân ta mai phục trong các nhánh sông, vũng sông, trừ sông Đá Bạc được mở rộng cửa cho quân thù tiến vào đất chết. Bộ binh tận dụng địa h́nh dấu quân trong núi đá Tràng Kênh và rừng rậm bên tả ngạn. Đại quân do vua Trần thống lĩnh cũng sẳn sàng tiếp ứng cho trận huyết chiến chiến lược này».

Ngày 8 tháng 4 năm 1288, một đội thuyền của địch đi trước ḍ đường tiến theo sông Giá. Đến Trúc Động (Thụy Nguyên, Hải Pḥng), đội thuyền này bị quân ta chận đánh phải rút lui. Nhiệm vụ của trận này là bịt đường sông Giá để bảo đảm bí mật cho trận địa mai phục và buộc toàn bộ đoàn thuyền của quân Mông-cổ phải  hành quân theo sông Đá Bạc vào sông Bạch Đằng, nghĩa là phải dẫn quân vào trận địa do ta chọn sẵn. Gần đây phát giác được băi cọc ở gần cửa sông Chanh và một số cọc bên tả ngạn sông Bạch Đằng phía dưới sông Chanh. Một số nhà nghiên cứu  cho đó là di tích của băi cọc trong trận Bạch Đằng năm 1288. Niên đại của băi cọc đó đang được nghiên cứu để xác minh thêm.

Theo Toàn Thư «Sông Bạch Đằng từ sông Lục Đầu, tỉnh Bắc Ninh chia ḍng chảy vào Hải Dương. Một nghành theo sông Mỹ, một nghành theo sông Cốc…». Địa Lư Chí của Nguyễn Trăi chép: «Sông Bạch Đằng biệt hiệu là sông Vân Cừ, rộng hơn hai dậm. Muôn sông đứng sắp, các nước giao ḍng, sóng nổi lên trời! Cây tre rợp băi! Thật là nơi hiểm yếu của đường biển» (bản dịch của Nhượng Tống).

Theo nghiên cứu địa lư th́ sông Chanh, sông Kênh, sông Rút xưa kia là lạch thoát của nước sông Bạch Đằng. Hiện nay vùng này phù sa đang bồi thêm. V́ thế nên sông Kênh chảy qua vùng Đồng Cốc (thuộc Yên Hưng) đang bị lấp cạn, cửa sông hiện nay chỉ c̣n vết trũng sâu mà dân địa phương gọi là lũng Mắt Rồng sát bờ đê sông Bạch Đằng (Đại Cương Lịch Sử Việt Nam tập I trang 239).

Khi Ô Mă Nhi dẫn đoàn thuyền tiến vào sông Bạch Đằng nhân lúc nước lớn, thủy quân nhà Trần tràn ra khiêu chiến, sau đó giả thua chạy vào sâu bên trong. Hắn trúng kế khích tướng nên thúc quân vận tải lương thực ra nghinh chiến, các tướng Phàn-Tham-Chính, Hoạch Phong cùng ra tiếp ứng. Khi thuyền giặc đă vào sâu bên trong sông Bạch Đằng, nghĩa là thuyền của chúng đă nằm trên những cọc gỗ mà quân ta cắm sẳn dưới ḷng sông. Tướng quân Nguyễn Khoái dẫn các quân lính Thánh Dực ra giao chiến.

Thủy quân Đại Việt từ Hải Đông-Vân Trà từ các phía Điền Công, Gia Đước, sông Thái, sông Giá nhanh chóng tiến ra sông Bạch Đằng. Với hàng trăm chiến thuyền cùng quân lính các lộ khác căng tay chèo thật nhanh ra sông và dựa vào Ghềnh Cốc lập thành một dăy thuyền chặn đầu thuyền địch trong thế chấn chiến hạm ở ngang sông. Trong lúc thủy chiến dữ dội th́ đoàn chiến thuyền của hai vua đóng ở vùng Hiệp Sơn (Kinh Môn, Hải Dương). Cũng có nơi nói Đức vua Trần đóng quân ở Hiệp Môn (Kinh Môn, Hải Dương) đă kịp thời xông ra tấn công giặc theo kế hoạch đă dự trù trước. Trước đó, đạo quân của hai vua chỉ huy đóng ở vùng Hiệp Môn bên bờ sông Giáp (sông kinh Thần, vùng Kinh Môn, Hải Dương) làm nhiệm vụ đánh cầm chừng và cản bước tiến của giặc. Đạo quân của hai vua tấn công từ phía sau của quân giặc khiến chúng càng bị động lúng túng và tổn thất rất nặng. Đồng thời, một số cánh quân khác của địch bỏ thuyền chạy lên bờ sông bên trái của Yên Hưng để t́m đường trốn thoát. Nhưng vừa lên tới bờ chúng lại rơi vào ổ phục kích của quân ta, và một trận đánh ác liệt đă xảy ra.

Trong khi đó, đoàn tàu của Trương Văn Hổ cũng vừa trờ tới, chúng liền bị quân nhà Trần mai phục trên hai bờ sông đổ ra chận đánh khiến chúng phải bỏ chạy. Giữa lúc ấy nưóc sông Bạch Đằng rút xuống quá nhanh khiến cho đoàn tàu chở lương thực của Trương Văn Hổ bị mắc cạn trên cọc gỗ, nghiêng và đắm một số lớn. Trời về chiều khi chiến trường sắp kết thúc, cánh quân của Thoát Hoan đóng gần đó vẫn án binh bất động không tới tiếp ứng, hắn đă bỏ rơi Ô Mă Nhi cùng với thuộc hạ chống đỡ thụ động trước sự tấn công của quân ta và đạo quân này hoàn toàn bị quân ta tiêu diệt. Theo Nguyên sử, truyện của Phàn Tiếp chép rằng kịch chiến xảy ra từ giờ măo đến giờ dần, tức là từ sáng ṛng ră kéo dài đến chiều.

Cũng cần biết thêm rằng điểm đặc biệt của sông Bạch Đằng là khi nước lớn rất nhanh mà nước rút cũng khá lẹ. Cho nên khi nước rút quá lẹ khiến cho thuyền của giặc Nguyên bị cọc gỗ đâm trúng, lật đỗ cả, quân giặc chết đuối vô số kể, máu đă chan ḥa cả ḍng sông. Quân ta tịch thu được hơn 400 chiến thuyền, Tước Nội Linh Tự Đỗ Hành bắt sống được Ô Mă Nhi và Tích Lệ Cơ Ngọc (Nhiều tài liệu khác ghi là Tích Lê Cơ hay Tích Lê Cơ Đại Vương. Viên tướng Mông-cổ này tên là Tích Lê Cơ, c̣n Vương là tước hiệu. Chữ Ngọc? chép lầm từ chữ  chữ Vương? Chú thích Toàn Thư) và đem dâng cho Thượng hoàng Thánh Tông.

An-Nam Chí-Lược (sử của giặc Nguyên do phản thần triều đ́nh nhà Trần ghi lại) có ghi các tướng Nguyên là Phàn Tiếp và Hoạch Phong đến tiếp ứng cho Ô Mă Nhi, nhưng không ghi rơ sống chết. Tuy nhiên, trong Nguyên Sử có chép về Phàn Tiếp như sau (tờ 10 b 2-3): «Tiếp cùng Ô Mă Nhi đem quân thủy trở về, bị giặc đón chận. Triều sông Bạch Đằng xuống, thuyền Tiếp mắc cạn. Thuyền giặc dồn về nhiều, tên bắn như mưa. Tiếp hết sức đánh từ giờ măo đến giờ dậu. Tiếp bị súng bắn, rớt xuống nước. Giặc móc lên bắt, dùng thuốc độc giết».

Sau khi bắt được Ô Mă Nhi và Tích Lệ Cơ Ngọc, quan Nội Minh tự Đỗ Hành đem dâng lên Thượng hoàng Thánh Tông. Ngài sai dẫn chúng lên thuyền của vua đi, đồng thời cùng ngồi nói chuyện và uống rượu vui vẻ. Phong cách tự tại đối với kẻ thù mà chỉ trước đây ít phút c̣n ở trận tuyến đối nghịch cho ta thấy chỉ có tâm hồn của bậc Thánh mới có thể thực hiện được mà thôi !

Khi nghe tin cánh quân Ô Mă Nhi hoàn toàn bị tiêu diệt, Hữu thừa Tŕnh Bằng Phi (Cương Mục, Toàn Thư ghi là A Thai), đă hộ tống Thoát Hoan chạy thoát bằng đường bộ  trốn về Tàu qua ngă Tư Minh (hay Lạng Sơn). Theo Nguyên Sử cho biết th́ Thoát Hoan đă rút chạy về nước một ngày trước khi cánh quân Ô Mă Nhi bị Hai Vua đánh tan trên sông Bạch Đằng, qua đó cho ta thấy sự khác biệt trong ghi chép giữa sử ta và sử tàu. Quân nhà Trần đă không dễ dàng để cho kẻ thù vượt thoát như vậy. Khi chúng vừa đến ải Nội Bàng, đă bị quân do Phạm Ngũ Lăo chỉ huy đổ ra tấn công tới tấp, đồng thời trên các điểm cao quân ta bắn tên tới tấp khiến hàng ngủ quân địch bị rối loạn và tan ră. Vạn hộ Trương Quân phải dùng ba ngàn binh sĩ liều chết mới thoát ra được nơi nầy.

Tinh thần quân địch càng hoang mang hơn nữa khi nghe tin thám tử (Mông-cổ) cho biết quân nhà Trần đóng rải rác hằng trăm dặm đường từ cửa ải Nữ Nhi đến núi Kheo Cấp để chận đường rút lui của chúng, sử nhà Nguyên ghi rằng : «…điệp báo Nhật Huyên và bọn thế tử cùng Hưng Đạo Vương chia quân hơn ba mươi vạn giữ ải Nữ Nhi và núi Kheo (hay Khâu) Cấp, liền hơn bốn trăm dặm, để chận quân rút về. Trấn Nam Vương (Thoát Hoan) bèn do huyện Đơn Kỷ đến Lộc Châu, đi tắt để về đóng châu Tư Minh».  Những điều ghi chép ở đây cho ta thấy một số điểm quan trọng. Đó là cuộc chiến trên sông Bạch Đằng xảy ra với Ô Mă Nhi đă không diễn ra cùng một lúc khi quân nhà Trần dưới sự chỉ huy của Hưng Đạo Vương chận đánh quân Mông-cổ ở biên giới Việt-Trung. Và đó cũng là lư do giải thích sự vắng mặt của Ngài trên sông Bạch Đằng như đă tŕnh bày ở trên.

Ở núi Kheo Cấp và ải Nữ Nhi, quân nhà Trần bắn tên độc xuống đoàn quân Mông-cổ triệt thoái. Các tướng Nguyên là Trương Ngọc, A Bát Xích đều bị trúng tên mà chết chung với quân sĩ. Thoát Hoan phải chạy theo đường tắt về Tư Minh (Việt Sử Tiêu Án ghi Thoát Hoan một ḿnh chạy bằng đường tắt về Đan Ba trốn sang Tàu) và ra lịnh Áo Lỗ Bát Xích gom góp những quân lính c̣n sót lại rút hết về nước theo ngă Tư Minh. A Thai th́ bị quân ta bắt được (Toàn Thư ghi do thổ quan Hoàng Nghệ bắt giữ), c̣n Thoát Hoan chạy thoát được. Ở đây chúng ta không ghi nhận được bất cứ thông tin nào liên quan đến đến công chúa An Tư. Sử nhà Nguyên cho biết khi Thoát Hoan chạy thoát qua được ṿng vây của quân ta, hắn c̣n sai Ái Lỗ dẫn cánh quân c̣n lại rút về Vân Nam, c̣n Áo Lỗ Xích đem toàn bộ binh sĩ c̣n lại đi lên miền Bắc.

Chiến thắng Bạch Đằng có một ư nghĩa quan trọng đó là quân dân Đại Việt đánh tan toàn bộ đoàn quân triệt thoái của giặc triệt thoái bằng đường thủy do Ô Mă Nhi đích thân chỉ huy. Từ bấy lâu nay mỗi khi nhắc tới chiến thắng này chúng ta thường đề cập tới Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là người đă có công tạo nên nó. Tuy nhiên các quyển sử xưa như Cương Mục, Toàn Thơ thường nhắc tới người lănh đạo tối cao của quân dân nhà Trần vào lúc đó là Đức vua Trần Nhân Tông (tức Vua Kim Phật) đă lănh đạo thành công hai lần kháng Nguyên 1285 và 1288. C̣n những sách sử cận đại th́ hầu như chẳng mảy may đề cập đến công đức của ngài, và nhất là những liên quan mật thiết đến việc điều động, sắp xếp cũng như tham dự vào trận đánh để đời này. Đức vua Trần Nhân Tông vừa là bậc lănh đạo chính trị kiêm chỉ huy tối cao về quân sự, và là người đă đề ra mọi đối sách từ ngoại giao đến quân sự với kết quả là nước Đại Việt chúng ta đă thành công đánh bại giặc Nguyên qua hai cuộc xâm lăng của chúng. Khi quân Mông-cổ tràn qua xâm lăng đất nước chúng ta lần thứ hai, lần thứ ba, nếu không có trí tuệ sáng suốt, tài ngoại giao khéo léo, nghệ thuật lănh đạo cuộc chiến một cách đầy mưu lược, cũng như ḷng can đảm để đương đầu trước mọi t́nh h́nh và nhân từ trong việc đối xử với người trong gia tộc, dân chúng, binh lính cho đến kẻ thù th́ Đức Vua Trần Nhân Tông làm sao có thể hội tụ được sức mạnh tổng hợp của dân tộc để chống lại quân thù. Phải nói rằng ngài là một bậc Thánh Quân có một không hai trong lịch sử dân tộc. Đó là những sự thực lịch sử mà mỗi người trong chúng ta cần ghi khắc và lấy tấm gương sáng của Ngài truyền lại cho thế hệ con cháu chúng ta sau này.

Lịch Sử Việt Nam tập I ghi ở trang 212 một chi tiết như sau về trận Bạch Đằng: «…Bà hàng nước ở bến đ̣ Rừng (Bạch Đằng) đă chỉ dẫn cho Trần Quốc Tuấn biết con nước sông Bạch Đằng để bố trí trận địa mai phục». Đây là một chi tiết khá đặc biệt. Một bà hàng nước mà lại có cái nh́n của một vị tướng lănh cầm quân đánh giặc, nên đă chỉ dẫn cho Hưng Đạo Vương cách thức bày binh bố trận để chận đánh quân thù. Có một điều đáng tiếc là chúng ta không biết ǵ về danh tánh cũng như gia phả của bà. Nhưng một điều có thể nói rằng, bà hàng nước ở bến đ̣ Rừng bên bờ sông Bạch Đằng của năm nào xứng đáng được ghi vào danh sách của những người có công đánh đuổi giặc Nguyên.

Quan điểm của giáo sư tiến sĩ Lê Mạnh Thát về trận chiến ở sông Bạch Đằng được ghi như sau trong Lê Mạnh Thát – Toàn Tập Trần Nhân Tông các trang 148-149:

«Phàn Tiếp truyện, như vậy, ghi nhận trận đánh xảy ra từ giờ Măo đến giờ Dậu, tức từ sáng tới chiều th́ chấm dứt. Thuyền của Đại Việt tập trung rất đông, “tên bắn như mưa”. Và việc Phàn Tiếp, khi bị thương nhảy xuống nước, quân ta đă dùng câu liêm móc lên, bắt được, rồi sau đó hơn 10 ngày mới giết đi, v́ ngày 17 khi vua Trần Nhân Tông hiến tiệp ở Long Hưng, th́ Phàn Tiếp c̣n có mặt cùng với đám Tích Lệ Cơ (Ơirôgi), Ô Mă Nhi, Đường Ngột Đăi, Sầm Đoạn, Mai Thế Anh, Điền nguyên soái.v.v.

Băi cọc đă treo thuyền cả đám tướng tá giặc vào ngày mồng 8 tháng 3 năm Mậu Tư (1288) ấy, ngày nay chưa xác định được rơ ràng. Tuy nhiên, ta biết việc đóng cọc trên sông Bạch Đằng phải xảy ra trong thời gian chưa đầy 3 tuần kể từ khi Ô Mă Nhi tấn công trại Yên Hưng vào ngày 19 tháng 2 và đến ngày mồng 8 tháng 3 quân Ô Mă Nhi đă có mặt ở sông Bạch Đằng. Trong t́nh h́nh chiến tranh thời bấy giờ, việc đưa một đoàn thủy quân địch vào đúng ổ phục kích do ta thiết kế quả là một thành công rực rỡ của khoa học và nghệ thuật chỉ đạo quân sự của bộ chỉ huy tối cao của đất nước lúc ấy, mà đứng đầu là vua Trần Nhân Tông.

Sự có mặt của vua Trần Nhân Tông cùng Thượng hoàng cũng như Trần Hưng Đạo và Nguyễn Khoái chứng tỏ trận đánh này trên hết nếu không do chính vua Trần Nhân Tông chỉ đạo và vạch kế hoạch, th́ cũng phải do chính nhà vua phê chuẩn và đồng ư thực hiện. Thực tế, chỉ việc vua Trần Nhân Tông hiện diện tại mặt trận này biểu thị một quyết tâm cao của người lănh đạo đất nước phải thực hiện cho được chủ trương và kế hoạch đă đề ra, coi đây là một nhiệm vụ xung yếu phải hoàn thành để đạt mục đích của cuộc chiến tranh. Sự kiện tiêu diệt toàn bộ đội thủy quân do Ô Mă Nhi chỉ huy ngày nay thường được nhiều người nghiên cứu gắn vào cho tên tuổi Trần Hưng Đạo, mà quên đi sự hiện diện của vua Trần Nhân Tông tại trận đánh quyết chiến tiêu diệt này. Trong mọi cuộc chiến tranh, lănh đạo chính trị bao giờ cũng là thống soái. Chỉ có sự lănh đạo chính trị mới tập hợp hết được mọi lực lượng của dân tộc cho cuộc chiến tranh. Không có cuộc tập hợp này th́ dù có tướng tài tới bao nhiêu, dù có kế hoạch tác chiến tốt tới đâu, và dù nhân dân yêu nước và quyết tâm chiến đấu cao tới mức nào đi nữa, th́ cuộc chiến tranh vẫn thất bại».

Trương Hán Siêu đă ca ngợi chiến thắng ở sông Bạch Đằng qua bài phú sau đây

Bài Phú Sông Bạch Đằng

Khách có kẻ: Chèo bể bơi trăng, buồm mây giang, gió. Sớm ngọn Tương kia, chiều hang Vũ nọ. Vùng vẫy Giang, Hồ: tiêu dao Ngô, Sở. Đi cho biết đây, đi cho biết đó. Chằm Vân-mộng chứa ở trong kho tư-tưởng, đă biết bao nhiêu, mà cái trí khí tứ phương, vẫn c̣n hăm hở! 

Mới học thói Tử-trương: bốn bể ngao du. Qua cửa Đại-than sang bến Đông-triều, đến sông Bạch-Đằng, đứng đỉnh phiến-chu. Trắng xóa sông kềnh muôn dặm, xanh ŕ dặng ác một màu. Nước trời lộn sắc, phong cảnh vừa thu. Ngàn lau quạnh cơi, bến lách đ́u-hiu. Giáo gậy đầu sông, cốt khô đầy g̣. Ngậm ngùi đứng lắng ngắm cuộc sống phù du. Thương kẻ anh hùng đâu vắng tá, mà đây dấu vết hăy c̣n lưu. 

Kia ḱa, bến sông, phu lăo người đâu. Lượng trong bụng ta, chứng có sở cầu. Hoặc gậy trống trước, hoặc thuyền bơi sau. Vái tạ mà thưa rằng: Đây là chỗ chiến địa vua Trần bắt giặc Nguyên, và là nơi cố-châu của vua Ngô phá quân Lưu đây. 

Đương khi: muôn đội thuyền bày, hai quân giáo chỉ. Gươm tuốt sáng ḷe, cờ bay đỏ khí! Tướng Bắc quân Nam đôi bên đối lũy. Đă nổi gió mà bay mây, lại kinh thiên mà động địa. Ḱa quân Nam-Hán nó mưu sâu, nọ Hồ-Nguyên có sức khỏe. Nó bảo rằng: phen này đạp đổ nước Nam, tưởng chừng có dễ. 

May sao: Trời giúp quân ta, mây tan trận nó, khác nào như quân Tào Tháo bị vỡ ở sông Xích-bích khi xưa, giặc Bồ Kiên bị tan ở bến Hợp-phù thuở nọ. Ấy cái nhục tày trời của họ, há những một thời, mà cái công tái tạo của ta lưu danh thiên cổ.

Tuy vậy, từ thuở có trời có đất, vẫn có giang-san. Trời đặt ra nơi hiểm-trở, người tính lấy cuộc tồn-an. Hội này bằng hội Mạnh-tân, như vương-sự họ Lă; trận nào bằng trận Dung-thủy, như quốc sĩ họ Hàn. Ḱa trận Bạch-Đằng này mà đại-thắng, bởi chưng Đại-vương coi thế giặc nhàn. Tiếng thơm c̣n măi, bia miệng hao ṃn. Nhớ ai sa giọt lệ, hổ ḿnh với nước non!

 

Rồi vừa đi vừa hát rằng:

Sông Đằng một dải dài ghê!

Cuồng to sóng lớn dồn về biển Đông.

Trời Nam sinh kẻ anh hùng.

Tăm kềnh yên lặng, non sông vững-vàng

Khách vừa đi vừa hát rằng:

Vua Trần hai vị Thánh-quân.

Sông kia c̣n dấu tẩy trần giáp-binh

Ngh́n xưa gẫm cuộc thăng-b́nh.

Tài đâu đất hiểm, bởi ḿnh đức cao.

 

Nguyên văn chữ Nho của Trương Hán Siêu

một bậc nho sĩ danh tiếng thời vua Trần Anh Tông, Đông Châu dịch.

Khảo về địa-dư và lịch-sử tỉnh Quảng-Yên

(Nam-phong tạp-chí, tập XIV số 8, tháng 6-1924).

 

Thơ của Phan Lập Trai

Biển Châu hiển phát Chương Dương độ

Dăn kiến sa âu phù chân chử

Dục mịch Trần Nguyên cổ chiến trường

Tưởng tại trung lưu soan khích xứ.

Dịch nghĩa:

Buổi sáng cưỡi thuyền nhỏ ra bến Chương Dương,

Chỉ trông thấy đàn chim âu bơi trên sóng nước.

Muốn t́m cảnh chiến trường xưa giữa quân Trần và quân Mông-cổ

Tưởng tượng ở chốn nước xoáy giữa ḍng.

(Việt Nam Văn Học Sử Yếu tập I, tác giả giáo sư Dương Quảng Hàm, trang 152)

(Kính mời chư quư tôn đức, chư quư liệt vị đón đọc toàn bộ tác phẩm Đức Vua Trần Nhân Tông, - tinh anh và tổng lực của tộc Việt-, sẽ được phát hành vào năm 2008)

 

-Nhóm Nghiên Cứu và Phổ Cập Tinh Thần Trúc Lâm Yên Tử-

Biên khảo: Trúc Lâm Phúc Lộc

 

Thư mục tham khảo:

1/ Đạo Phật và Ḍng Sử Việt, tác giả cố Ḥa thượng Thích thượng Đức hạ Nhuận, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản 1998, California Hoa Kỳ.

2/ Toàn Tập Trần Nhân Tông, tác giả giáo sư tiến sĩ Lê Mạnh Thát, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam xuất bản 2000, Việt Nam.

3/ Đại Việt Sử Kư Toàn Thư. Ngô Sĩ Liên, Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, biên soạn năm 1697.

4/ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, biên soạn bởi Quốc Sử Quán Triều Nguyễn 1856-1861.

5/ Việt Sử Tiêu Án, biên soạn bởi Ngọ Phong Ngô Thời Sỹ 1775.

6/ Đại Việt Sử Lược, tác giả Khuyết Danh (1377-1388), dịch giả Nguyễn Gia Tường (1972).

7/ Thiền Sư Việt Nam, tác giả Thanh-Từ, xuất bản Sài G̣n Việt Nam 1973.

8/ Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, cố Ḥa thượng Thích thượng Mật hạ Thể, Minh Đức xuất bản 1960, Huế.

9/ Việt Nam Sử Lược, soạn giả Lệ Thần Trần Trọng Kim, Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Ḥa Trung Tâm Học Liệu xuất bản, Sài G̣n Việt Nam.

10/ Trần Hưng Đạo, tác giả Hoàng Thúc Trâm, xb 1950, Sài G̣n Việt Nam.

11/ Hán-Việt Từ-Điển, tác giả Đào Duy Anh biên soạn, Hăn-mạn-tử hiệu đính, Trường Thi xuất bản 1957, Sài G̣n Việt Nam.

12/ An Nam Chí Lược, soạn giả Lê Tắc, dịch thuật bởi Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt Nam 1960, Viện đại học Huế xb 1961.

13/ Histoire du Viet Nam des origines à 1858, tác giả Lê Thành Khôi, do Sudestasie xuất bản năm 1987 tại Paris.

14/ Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam tập 4 - Tư tưởng Việt Nam thời Trần (1225-1400), tác giả cố Giáo sư Nguyễn Đăng Thục, xuất bản 1992 tại Sài G̣n Việt Nam.

15/ Lịch Sử Việt Nam tập I, nhà xuất bản khoa học xă hội Hà Nội xuất bản năm 1985.

16/ Việt Sử Giai Thoại – 71 Giai Thoại Thời Trần, tác giả Nguyễn Khắc Thuần, xuất bản 1993, Sài G̣n Việt Nam.

17/ Việt Sử Khảo Luận tập 2, tác giả Hoàng Cơ Thụy, Hội Văn Hóa Hải Ngoại xuất bản 1988 tại Paris, Pháp quốc.

18/ Đại Cương Lịch Sử Việt Nam tập 1, Trương Hữu Quưnh, Phan Đại Doăn, Nguyễn Cảnh Minh đồng biên soạn. Xuất bản 1998 tại Hà Nội.

19/ Thơ văn Lư Trần, Hà Nội xuất bản 1988 tập II quyển thượng.

20/ Tiêu Sơn Tráng Sĩ, tác giả Khái Hưng do Văn Nghệ xuất bản năm 1968, tại Sài G̣n Việt Nam.

21/ Việt Nam Văn Học Sử Yếu tập I, tác giả giáo sư Dương Quảng Hàm, xuất bản Sài G̣n Việt Nam (SUDASIE tái bản ở Paris năm 1986).

22/ Việt Sử Mông Học-Từ Hồng Bàng đến 1945, tác giả Ngô Đức Dung, nhà xuất bản văn học Hà Nội xuất bản năm 1998, Việt Nam.

23/ Khảo về địa-dư và lịch-sử tỉnh Quảng-Yên (Nam-phong tạp-chí, tập XIV số 8, tháng 6-1924).

24/ Những Trang Sử Vẻ Vang, Nguyễn Lân biên thuật, nhà XBKHXH Hà nội phát hành 1998.

25/ Đại Việt Sử Kư Tiền Biên, do Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Lê Tung, Ngô Sĩ Liên, Ngô Thời Sĩ đồng biên soạn và viết lời bàn; Ngô Thời Nhậm tu đính, Sử quán triều Tây Sơn khắc in năm 1800; Viện Nghiên cứu Hán Nôm xuất bản 1997 tại Hà Nội.

26/ Bản thảo Đại Việt Chư Tôn Đức Hành Trạng, Trúc Lâm Lê An B́nh biên khảo (chưa xuất bản).

 

* Trở về trang chính *

 

 

 

 

 email: truclamyentu.ifrance.com

Trúc Lâm Yên T @ 04/2004