Nhóm Nghiên Cứu và Phổ Cập Tinh Thần Trúc Lâm Yên Tử

Tấm lòng

Mục đích thành lập nhóm Nghiên cứu nhằm phổ biến tinh thần Hòa quang đồng trần do ngài Điều Ngự Giác Hoàng…(xin mời đọc tiếp) 

 

Văn hóa tộc Việt

Tư tưởng nhân quyền của tộc Việt

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn lấy chí nhân mà thay cường bạo

Khai bút đầu năm Ất dậu 2005...

 

Dòng s

Đức vua Trần Nhân Tông

Chiến thắng Vân Đồn

Chiến thắng sông Bạch Đằng

Những hư cấu liên quan đến các vị vua thời nhà Trần (12)

Chân dung đức Thánh Trần

Vua Trần Nhân Tông-Anh hùng dân tộc kiêm triết gia thi sĩ

Đại Việt sử ký khảo luận (từ thời lập quốc đến thế kỷ 21)

Giới thiệu Việt sử đại cương

Bảo nghĩa hầu Trần Bình Trọng

Quang Trung hoàng đế

Nghiên cứu biên giới Việt Trung 

Mo^.t cuo^'n ngo.c pha? nhie^`u gia' tri. li.ch su+?

Go.i ho^`n Quo^'c To^? ...

 

Dòng s cn đại

Quân sử Việt Nam 

Tìm mo^.t Gandhi cho Vie^.t Nam

Nguo+`i lính Nguye^~n Xuân Phúc

 

Tư tưng Pht giáo

Đường về cõi Phật

Phật

Xuân Di Lặc xuân thái bình

Kính mừng đức Phật đản sanh

Chữ NHÂN

Hành trạng vô úy của Phật giáo Việt Nam

Khánh Đản 745 năm của đức Điều Ngự

Mahatma Gandhi

Tuyên ngôn d-o^.c la^.p cu?a nu+o+'c D-a.i Vie^.t

Pha^.t giáo Vie^.t Nam

Ða.i Vie^.t Chu+ Tôn Ðu+'c hành tra.ng

Trúc Lâm so+ To^?

Nhi. To^? Pháp Loa

Tam To^? Huye^`n Quang

Trúc Lâm d-e^. tu+' To^?

Thie^`n ho.c Vie^.t Nam

Tinh tha^`n dung hóa cu?a tu+ tu+o+?ng Vie^.t vo+'i chu+~ Lòng

Sri Aurobindo

Vô nha^'t d-a.i su+

Tam giáo do^`ng nguyên

Bưu hoa - tin t Vit Nam

Bưu hoa Việt Nam - Tiền tệ Việt Nam

Nhạc Phật giáo

Nhạc phẩm Phật hoàng Trần Nhân Tôn

Nhạc phẩm Hòa kính khiêm tu

Khối 8406

Ṭa Bạch ốc phản đối cộng sản Việt Nam

Báo chí Pháp đăng tin cộng sản Việt Nam đàn áp đối lập

 

  Đức Vua Trần Nhân Tông

-Tinh anh và tổng lực của tộc Việt-

 

 

 

Biên khảo : Trúc Lâm Phúc Lộc

(Quốc Lịch 4882, Phật Lịch 2546, ngày 16 tháng tư năm Quư Mùi tức 16/05/2003 dương lịch)

Chương Bốn

Kế sách rút lui và pḥng thủ chiến lược

 

Ngày 26 tháng Chạp năm 1284 giặc Nguyên tấn công vào ải Nội-Bàng cũng như các ải gần đó (Toàn Thư), c̣n trong An Nam Chí Lược ghi là 27 tháng Chạp. Quân ta đă rút khỏi các ải vừa bị thất thủ và lui về pḥng tuyến Vạn Kiếp. Vào lúc này nhằm năm hết tết đến, vừa phải cấp tốc tổ chức lại sự chiến đấu cũng như chăm sóc cho những binh sĩ bị thương c̣n phải chuẩn bị đón chào năm mới Ất-Dậu, không khí thật tưng bừng phấn chấn nhất là khi Đức Hoàng Đế Trần nhắc nhở và cổ vũ thinh thần toàn quân sau một số thất lợi ban đầu bằng cách nói rằng «Hoan, Diễn do tồn thập vạn quân» nghĩa là ta c̣n đạo quân dự bị ở Hoan Diễn đến hơn trăm ngàn người.

 

Thoát Hoan sau khi đă chấn chỉnh xong binh đội, ngày mồng 6 tháng Giêng năm 1285 chúng mở cuộc tấn công vào pḥng tuyến Vạn Kiếp và núi Phả Lại (tức là núi ở xă Phả Lại, cạnh sông Lục Đầu, đối diện với thị trấn Phả Lại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Hưng) của quân Đại Việt. Ở tại Vạn Kiếp, Hưng Đạo Vương đă đem chiến thuyền dàn trận cách sông Vạn Kiếp mười dặm mà theo Cương Mục gọi là trận «dực thủy». Dực thủy là h́nh thức dàn trận đánh trên sông sắp các chiến thuyền theo h́nh cánh chim săi trên mặt nước. H́nh thức này có lợi là các chiến thuyền có thể nương tựa và bảo vệ nhau trong lúc chiến đấu. Tuy nhiên nếu gặp cường địch, thế cùng phải thoái lui th́ sẽ bị vướng víu khó ḷng xoay trở kịp. Trong sách Trần Hưng Đạo của tác giả Hoàng Thúc Trâm th́ ghi là «Dục thủy» tức là trận tắm nước.

Phải nói là trận đánh tại Vạn Kiếp xảy ra rất là cam go giữa ta và địch, chúng phải mất hơn 10 ngày mới phá vỡ được pḥng tuyến này của ta. Dĩ nhiên con số thiệt hại nhân mạng giữa hai bên là không nhỏ, phía quân Nguyên có tướng vạn hộ Nghê Nhuận bị tử trận ở Lưu Thôn. Quân ta rút lui thêm một lần nữa trước sức công phá mănh liệt của địch. Ngày 12 giặc Nguyên đánh vào Gia Lâm, Vũ Ninh (sau là Vơ Giảng, nay là huyện Quế Vơ, tỉnh Bắc Ninh), Đông Ngàn (tức là huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Chúng đă sát hại rất nhiều binh sĩ của ta, nhất là những người có xâm hai chữ «sát thát». Thẳng đường giặc Nguyên chiếm luôn Đông Bộ Đầu và dựng một lá cờ lớn (trong Cương Mục cũng như Toàn Thư không có ghi là cờ nào, có lẽ là cờ Mông-cổ chăng?).

Cũng cần biết thêm rằng từ khi chiến cuộc Nguyên Việt bùng nổ th́ khắp nơi trong nước Việt đều treo bảng yết thị của triều đ́nh với nghiêm lịnh không được đầu hàng kẻ thù, nghiêm lịnh đó nội dung như sau: «Phàm các quận huyện trong nước, hễ có giặc ngoài đến, th́ phải liều chết cố đánh; nếu không địch nổi th́ cho phép lẩn tránh vào rừng núi, chứ không đón hàng».

 

Ngày 9 tháng giêng năm Ất Dậu (1285) Đức vua Trần thống lănh 100 ngàn quân Đại Việt cả thủy và lục hai lộ quân ở tại pḥng tuyến nơi sông B́nh Than (hay Bài-Than theo An Nam Chí Lược của Lê Tắc) để chống lại sức tấn công vũ bảo của giặc Nguyên do các tên tướng Ô Mă Nhi, Chiêu-Thảo Nạp-Hải, Trấn-Vũ Tống-Lâm-Đức cầm đầu. Để tấn công vào pḥng tuyến này của ta, chúng đă xử dụng những chiến thuyền tịch thu được ở trận Vạn Kiếp. Cũng tại đây vào tháng 10 năm 1283, Đức vua Trần Nhân Tông đă triệu tập các vương thân quốc thích để bàn phương sách chống giặc. Th́ nay hơn một năm sau tại bến đ̣ B́nh Than vũng Trần Xá này đă diễn ra một trận kịch chiến long trời lở đất do đích thân ngài chỉ huy. Trận này xảy ra cho ta thấy rơ ràng hơn chiến lược chống giặc của vị lănh đạo của chúng ta là «mềm nắm rắn buông» hay tháo lui chiến lược pḥng thủ chiến lược và phản công chiến lược. Và hiện tại ta đang ở giữa giai đoạn một và hai.

 

Ngày 13 tháng giêng, Đức vua Trần cùng quân lính trấn thủ pḥng tuyến sông Cái (trong sử gọi là sông Lô) chống trả các cuộc tấn công của quân Nguyên nhưng không thành công đành phải rút lui để lập pḥng tuyến mới.

 

Trải qua một số các trận chiến, triều đ́nh ta muốn rơ thực hư của kẻ thù nhưng chưa t́m được người thích hợp để đưa thơ. Ngay lúc đó Chi hậu cục Đỗ Khắc Chung bước ra t́nh nguyện mang thơ đi, ông nói: «Thần hèn mọn bất tài, nhưng xin được đi». Đức vua khen ngợi: «Ngờ đâu trong đám ngựa xe kéo muối lại có ngựa kỳ, ngựa kư như thế».  

 

Ở trại quân Mông-cổ, Ô Mă Nhi trách Đỗ Khắc Chung về hai chữ «Sát Thát»: «Quốc vương ngươi vô lễ, sai người thích chữ «Sát Thát», khinh nhờn thiên binh, lỗi ấy to lắm».

 

Đỗ Khắc Chung đáp: «Chó cắn người lạ không phải chủ nó. V́ ḷng trung phẫn mà họ tự thích chữ thôi, Quốc Vương tôi không biết việc đó. Tôi là cận thần, tại sao không có? ». Nói rồi ông đưa tay cho họ xem. Đuối lư Ô Mă Nhi quay sang chuyện khác, y hỏi: «Quân ta từ xa tới, nước ngươi sao không quay dáo đến hội kiến lại c̣n chống lịnh. Càng bọ ngựa cản bánh xe liệu sẽ ra sao?»

 

Đỗ Khắc Chung ứng khẩu:

 

«Hiền tướng không theo cái phương sách Hàn Tín b́nh nước Yên, đóng quân ở đầu biên giới, đưa thơ tín trước, nếu không thông hiểu th́ mới có lỗi. Nay lại bức nhau, người ta nói thú cùng th́ chống lại, chim cùng th́ mổ lại, huống chi là người».

 

Ô Mă Nhi trả lời:

 

«Quân ta chỉ mượn đường sang đánh Chiêm Thành, nếu nhà vua của ngươi đích thân đến đây hội kiến cùng ta, th́ nước sẽ không bị xâm hại ǵ cả. Bằng ngược lại, th́ trong khoảng khắc, tất cả sẽ bị san thành b́nh địa, đến khi ấy, dù có hối tiếc cũng không c̣n kịp nữa» .

 

Trao thơ xong Đỗ Khắc Chung cáo từ ra về. Ô Mă Nhi nói với đám cận tướng: «Nhân vật này trong lúc bị uy hiếp mà lư luận và thần sắc vẫn b́nh tĩnh không bối rối, không hạ vua ḿnh là chú Chích, không tâng bốc ta là vua Nghiêu, chỉ nói «Chó trong nhà cắn người lạ», ứng đáp thật khôn khéo, người này có thể nói là «không làm nhục mệnh lệnh của vua phó thác cho» . Trong nước họ có người như thế, chưa dễ đă làm ǵ họ được». Những diễn biến chiến trường sau đó đă ứng nghiệm đúng với lời nói của Ô Mă Nhi với các cận tướng khi phê b́nh về Đỗ Khắc Chung nói riêng và triều đ́nh ta nói chung.

 

Ư thức được điều này và cũng để tránh hậu hoạn nên Mă Nhi đă sai quân rượt theo để chận giết Đỗ Khắc Chung. Tuy nhiên Đỗ Khắc Chung đă về trại của quân ta vào giờ mẹo ngày 13 tháng giêng năm 1285 và quân Đại Việt đă giao chiến với Mông-cổ ngăn cản không cho chúng giết vị sứ giả của triều đ́nh.

 

Ngày 14 tháng giêng (1285), quân ta lập các cứ điểm (gồm các sào lũy bằng gỗ) pḥng ngự phía Nam sông Cái để chống giặc, ở đây mở màn cho trận đánh thành Thăng Long. Theo An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 7a4 ghi như sau –Toàn Tập Trần Nhân Tông, Lê Mạnh Thát- về rơ bối cảnh của trận đánh «Trấn Nam Vương liền cùng quan hành tỉnh tự ḿnh đến Đông Ngạn, sai quân đánh, giết được rất nhiều, bắt được 20 thuyền. Hưng Đạo Vương thua chạy. Quan quân buộc bè làm cầu, sang bờ bắc sông Phú Lương. Nhật Huyên bố trí binh thuyền, dựng rào gỗ dọc theo sông. Thấy quan quân đến bờ, lập tức nổ pháo, hô lớn thách đánh. Đến chiều lại sai Nguyễn phụng ngự mang thư đến Trấn Nam Vương và quan hành tỉnh, xin rút đại quân. Hành tỉnh lại đưa thư trách, rồi lại tiến quân. Nhật Huyên liền bỏ thành chạy, đồng thời sai Nguyễn Hiệu Nhuệ đem thư xin lỗi và biếu phương vật, cùng xin rút quân. Hành tỉnh lại đưa thư chiêu dụ, rồi điều quân sang sông, đóng ở dưới thành An Nam. Hôm sau, Trấn Nam Vương vào quốc đô của nước đó. Cung thất đều trống trơn, chỉ lưu lại mấy tờ chiếu sắc và mấy lá thư của hành tỉnh, tất cả đều bị xé nát».

Ở đây cho ta thấy toàn diện bối cảnh của trận đánh ngay bên ngoài kinh thành Thăng Long do Đức vua Trần thống lănh ba quân chiến đấu. Tuy rằng cách đây hơn một tháng vào ngày 9 tháng giêng và liên tiếp sau đó nhiều ngày quân ta đă kịch chiến với giặc ở bến đ̣ B́nh Than và lại rút lui, nhưng cũng cần phải hiểu đó là cuộc triệt thoái nằm trong kế hoạch dự trù để dụ quân địch vào nơi mà ta thấy thích hợp để đánh. Kế hoạch rút quân của ta từ B́nh Than về Thăng Long và từ Thăng Long về Thiên Trường là nhằm bảo toàn lực lượng tránh đi ba mũi tấn công của giặc Nguyên. Một mũi do chính Thoát Hoan và A Lư Hải Nha từ phía Đông Bắc xuống, mũi kế là từ Tây Bắc thọc qua do Nạp Tốc Lạt Đinh và cuối cùng, quan trọng hơn là mũi từ phương Nam đâm lên do Toa Đô chỉ huy. Khi quân Nguyên tới phía bắc bờ sông Hồng (tức sông Phú Lương), chúng kết bè để làm cầu vượt sông. Binh sĩ ta trông thấy lập tức nổ súng (pháo) chống giặc và cố t́nh trêu chọc bằng cách thách thức đánh nhau. Trong lúc hai bên đang kịch chiến, Đức vua sai Nguyễn Hiệu Nhuệ sang trại quân Nguyên đưa thơ và cống phẩm yêu cầu Thoát Hoan rút lui. Thoát Hoan không nghe vừa gởi thơ trách móc vừa tiếp tục tấn công.

Về nhân vật đưa thư trong An Nam Truyện ghi là tên hai người là Nguyễn Phụng Ngự và Nguyễn Hiệu Nhuệ (trong Cương Mục và sách Trần Hưng Đạo của Hoàng Thúc Trâm cũng ghi là Nguyễn Hiệu Nhuệ chứ không thấy ghi Nguyễn Phụng Ngự). Mục đích là nhằm ḍ thám quân t́nh thực hư của địch cho nên ta mới duy tŕ sự liên lạc với chúng một cách chừng mực, sự duy tŕ này ta thời nay gọi là vừa đánh vừa đàm. Phía quân Nguyên có rơ mưu lược này của ta hay không th́ không ai được biết, nhưng mỗi lần ta đưa thơ qua, chúng đều trả lời (dĩ nhiên là với những lời lẽ không thuận lợi) và cho sứ giả của ta đi vào doang trại của chúng, đây là một sự thành công về chiến lược t́nh báo do Đức Hoàng Đế Trần chủ trương. Có thể nói phương pháp này chỉ có triều đ́nh nhà Trần là xử dụng một cách hiệu quả nhất từ xưa đến nay mà thôi.

Thoát Hoan không chấp thuận lời rút quân, bèn cho quân lính tấn công và bắc cầu phao sang sông, sau đó đóng doanh trại sát kinh thành. Tại đây theo An-Nam Chí-Lược quyển 4 tờ 37 th́ Đức Hoàng Đế Trần cùng quân sĩ trấn giữ Lư-Giang (có lẽ đây là một phần của sông Hồng trước khi vào Thăng Long). Quân ta ở hai bờ sông lập đồn chống cự dữ dội nhưng không được đành phải rút lui. Thoát Hoan vào được Thăng Long chỉ thấy thành quách trống trơn không người lui tới, chỉ c̣n lại các văn thư của Mông-cổ đă bị xé nát. Đó đây dưới các gốc cây c̣n để lại nghiêm lịnh cấm quân dân Đại Việt đầu hàng kẻ thù. Tuy chiếm được Thăng Long nhưng Thoát Hoan e dè sợ lọt vào ổ phục kích của ta nên không dám đóng quân trong thành. Về thời điểm khi thành Thăng Long thất thủ th́ Cương Mục Chính Biên quyển VII ghi «Ngày hôm sau, kéo quân vào thành, th́ lúc bấy giờ nhà vua đă chạy ra ngoài rồi, Thoát Hoan cho quân đuổi theo».

Việt Sử Tiêu Án ghi «ngày đă về chiều, quân giặc qua sông vào kinh thành». Toàn Tập Trần Nhân Tông của giáo sư Lê Mạnh Thát ghi ở trang 73 như sau: «Chính trong ngày 14 tháng giêng năm Ất Dậu ấy (1285) khi Thoát Hoan vào kinh thành yến tiệc với thuộc hạ». An-Nam Chí-Lược của Lê Tắc quyển đệ tứ ghi: «Ngày 13 Bính Tuất…Trấn-Nam-Vương qua sông mở tiệc tại cung đ́nh An-Nam». Quyển Đạo Phật và Ḍng Sử Việt của tác giả Đức Nhuận ghi ở trang 265: «ngày 18 tháng 2…địch dùng súng đại bác bắn yểm trợ…kéo đến đánh chiếm Thăng Long; nhưng khi vào được thành th́ chỉ c̣n trơ trụi những thành quách».

Tại sao lại có sự khác biệt nêu trên về thời điểm thành Thăng Long thất thủ như thế? Quyển Toàn Tập Trần Nhân Tông của giáo sư Lê Mạnh Thát ghi 14 tháng giêng năm Ất Dậu (1285); c̣n Đạo Phật và Ḍng Sử Việt của tác giả Đức Nhuận ghi vào ngày 18 tháng 2. Thăng Long mất vào buổi sáng, chiều hay ngày hôm sau, có nơi ghi là ngày 14 tháng giêng là do sự đề kháng của quân ta ở những nơi chốn khác nhau, và khi không có sự đề kháng nữa th́ Thoát Hoan mới vào được bên trong thành. So sánh đối chiếu nhiều bộ sử khác nhau, chúng tôi xin lấy lấy ngày 14 tháng giêng là ngày giặc chiếm thành Thăng Long.

Khi quân giặc kéo vào Thăng Long th́ nhà vua và toàn thể quân dân Đại Việt đă rời khỏi kinh thành để lui về Thiên Trường (Nam Định) mà lập pḥng tuyến mới. Trong khi đó quân Nguyên vẫn tiếp tục truy sát quân ta để cố bắt cho được hai vị vua của ta.

Ngài rước Thượng Hoàng Trần Thánh Tông đi Tam Trĩ Nguyên (là sông Ba Chế, ở huyện Ba Chế thuộc tỉnh Quảng Ninh), Thoát Hoan khi vào thành biết rằng nhà vua đă đi xa nên càng gấp rút đuổi theo. Hưng Đạo Vương là người có tài, nhưng có hiềm khích trong gia đ́nh với hai vị vua (v́ cha là An Sinh Vương Trần Liễu đă khởi binh chống lại triều đ́nh), khi thấy ông cầm một cây gậy đầu có bịt sắt đi theo hai vua bôn đầu, khiến nhiều người dân để ư, ông đă tháo bỏ đầu bọc sắt, chỉ xử dụng gậy không, từ đó dân chúng mới yên ḷng. Điều này chứng tỏ ông là một người biết gát bỏ thù riêng để lo việc nước, hành động này thật đáng ca ngợi và c̣n lưu măi tiếng thơm ở đời sau.

Quân do thám Mông-cổ ḍ biết được nơi chốn đào tỵ của hai vua nên chúng chia hai đường do Tả thừa truy đuổi bằng đường thủy, Hữu thừa rượt theo bằng đường bộ. Đức Hoàng đế Trần bỏ đường thủy pḥ Thượng Hoàng đi bộ cùng với quân dân. Trong Cương Mục và Toàn Thư không thấy ghi cách tổ chức hành quân triệt thoái vào đời Trần ra sao, chắc hẳn là vô cùng gian nan và bức bách. Đoàn quân triệt thoái được an toàn đă chứng tỏ tài năng của các vị lănh đạo thời đó suy nghĩ trong việc sắp xếp một cách chu đáo cuộc triệt thoái này. Ngày nay nhiều nhà quân sự tiếng tăm trên thế giới cho rằng hành quân triệt thoái nó c̣n khó hơn cả khi tấn công vào đất địch v́ đạo quân bị rơi vào thế thụ động vừa phải t́m cách bảo toàn lực lượng vừa lo chống đỡ kẻ thù truy kích, th́ cách đây 720 năm về trước, một vị Hoàng đế người Việt Nam đă thành công trong việc chỉ huy đoàn quân triệt thoái giữa lúc đang bị kẻ thù xâm lăng truy đuổi gắt gao nhất. Người đó không ai khác hơn đó là Đức vua Trần Nhân Tông.

Như ta đă thấy ở các trận, ngoại trừ trận Nội-Bàng, Chi-Lăng, Vạn-Kiếp đây là những chiến trường mà ta và quân Mông-cổ giao tranh rất ác liệt và gay go. Nhưng với quân số áp đảo, Mông-cổ đă đánh bứt được các vị trí trú pḥng trên vùng biên giới khiến ta phải rút lui một cách bất ngờ ngoài dự định. Đặc biệt khi chiến tuyến Nội-Bàng thất thủ đă làm xáo trộn hoàn toàn kế sách phóng thủ của quân đội Đại Việt. Lư do như các đoạn trước có nói là v́ ta bố trí binh sĩ dựa theo sự bố pḥng của danh tướng Lư Thường Kiệt cách đây 200 năm về trước chống lại quân nhà Tống, phương pháp này đă rất có hiệu quả vào thời đó. Nhưng vào lúc mà quân Nguyên tấn công vào ta trên nhiều trận tuyến, th́ phương pháp này hoàn toàn thất bại, v́ quân thù ngày nay khác với trước. Quân thù này ngày càng hung hăng hơn năng động hơn, ta có thất bại một vài trận đầu là chuyện đương nhiên không thể tránh khỏi.

Để điều chỉnh khiếm khuyến chiến lược này Đức Trần đă gấp rút đi bằng thuyền nhẹ ra Hải-Đông đến nỗi quên cả ăn sáng để hội họp cấp tốc với Hưng-Đạo-Vương. Từ đó một kế sách mới được h́nh thành. Đó là chiến lược rút lui, pḥng thủ và phản công. Và chiến lược này bắt đầu thực hiện, từ trận B́nh-Thang do Đức Hoàng đế Trần Nhân Tông đích thân thống lănh hơn 100 ngàn quân dân Đại Việt chiến đấu chống giặc.

Một trong những pḥng tuyến xa bảo vệ Thiên Trường (Nam Định nơi đặt triều đ́nh tạm của ta) là băi Tha-Mạc (tức sông Thiên-Mạc ở bên sông Cái thuộc Hưng-Yên. An-Nam Chí-Lược gọi là ải Thiên-Hán), vị tướng trấn thủ pḥng tuyến này là Bảo-Nghĩa-Hầu Trần B́nh Trọng. Ngày 21 (nhâm th́n) tháng giêng năm Ất Dậu (1285) quân ta chạm địch ở băi Tha Mạc trong nỗ lực ngăn chận sự tiến quân của chúng làm pḥng tuyến xa cho Thiên Trường. Cũng cần biết thêm về Bảo-Nghĩa-Vương Trần B́nh Trọng thuộc ḍng dơi vua Lê Đại Hành, là người chồng sau của công chúa Thụy Bảo, có thân phụ làm quan trong đời vua Trần Thái Tông. Ông được triều đ́nh cho phép mang họ Trần. Trong trận giao tranh với địch quân ở băi Tha-Mạc (hay Đà-Mạc nay là băi Mạn Trù theo Toàn Thư tức hạ lưu sông Phú Lương ở tại băi Mạn Trù của huyện Đông Yên vùng tỉnh Hưng-Yên) quân Nguyên chiếm được nơi này và chúng bắt được Bảo-Nghĩa-Vương. Khi bị giặc bắt Bảo-Nghĩa-Vương Trần B́nh Trọng nhất định cự tuyệt việc ăn uống và không hé môi nói một lời nào về t́nh h́nh quân đội và triều đ́nh Đại Việt. Thoát Hoan hỏi Vương rằng: «Có muốn làm Vương đất Bắc hay không»?

Bảo-Nghĩa-Vương hét lớn: «Ta thà làm ma nước Nam chứ không làm Vương đất Bắc».

 

Thoát Hoan thấy không thể nào chiêu dụ được vị dũng tướng như thế nên hắn ra lịnh giết đi để trừ hậu hoạn. Nghe được hung tin Bảo-Nghĩa-Vương Trần B́nh Trọng tử quốc, Đức Hoàng đế Trần và triều đ́nh đă vô cùng thương khóc cho người nghĩa tướng một ḷng v́ dân v́ nước. Phải nói cái chết của Bảo-Nghĩa-Hầu Trần B́nh Trọng là một sự mất mát lớn lao của triều đ́nh nhà Trần, đặc biệt là đối với Đức Hoàng đế Trần Nhân Tông là người rất coi trọng t́nh nghĩa gia đ́nh, cho nên trong Cương Mục ghi lại phản ứng của ngài là «Nhà vua được tin này, vật vă thương khóc».

 

Đại Cương Lịch Sử Việt Nam tập I ở trang 228 ghi ngày 26 tháng 2 năm 1285 giặc Nguyên giết chết danh tướng Trần B́nh Trọng. Bị giặc bắt trong gần một tháng, ông phải đối phó với nhiều thủ đoạn mua chuộc cũng như áp lực tinh thần của kẻ thù, chưa hết ngày 1 tháng 2 xảy ra sự kiện Chương Hiến Hầu Trần Kiện (một tôn thất nhà Trần) đầu hàng kẻ thù, tin tức bất lợi như thế làm thế nào mà ông không hay biết, làm sao mà kẻ thù không khai thác có lợi cho chúng? Thế mà ông vẫn giữ vững tinh thần chiến đấu và ḷng trung thành với tổ quốc và dân tộc Việt Nam, không hổ danh là Bảo Nghĩa Hầu và tiếng thơm này vẫn c̣n lưu truyền ở ngàn đời sau.

 

Quân ta do Vua Trần Nhân Tông thống lĩnh, lui về giữ ải Hải-Thị (có thể thuộc mạn Hưng-Yên), tại đây ta làm rào cản bằng cây gỗ, tại phía Tây bờ sông để chống giặc. Quân Nguyên từ trên và dưới bờ sông bắn tên tới tấp khiến quân ta bị tan vỡ và phải rút đi. Tại mặt trận này không thấy ghi tên người chỉ huy cả hai bên từ các bộ sử của ta cho đến các bộ sử Tàu.

 

Theo An-Nam truyện của Nguyên sử ghi về những diễn biến đưa tới trận đánh ở băi Tha Mạc như sau: «(Thoát Hoan) sai Vạn hộ Lư Bang Hiến và Lưu Thế Anh đem quân mở đường từ Vĩnh B́nh vào An Nam, mỗi 30 dặm lập một trại. 60 dặm đặt một trạm, mỗi một trại đóng quân 300 tên để trấn giữ và tuần tra, lại sai Thế Anh dựng đồn, chuyên đôn đốc công việc của trại, trạm» «Hữu thừa Khoan Triệt dẫn Vạn Hộ Mang Cỗ Đăi và Bột La Hợp Đát Nhi bằng đường bộ và Lư tả thừa dẫn Ô Mă Nhi Bạt Đô bằng đường thủy».

 

* Mời xem tiếp Chương Năm ->

 

 

 

 

 email: truclamyentu.ifrance.com

Trúc Lâm Yên T @ 04/2004