Nhóm Nghiên Cứu và Phổ Cập Tinh Thần Trúc Lâm Yên Tử

Tấm lòng

Mục đích thành lập nhóm Nghiên cứu nhằm phổ biến tinh thần Hòa quang đồng trần do ngài Điều Ngự Giác Hoàng…(xin mời đọc tiếp) 

 

Văn hóa tộc Việt

Tư tưởng nhân quyền của tộc Việt

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn lấy chí nhân mà thay cường bạo

Khai bút đầu năm Ất dậu 2005...

 

Dòng s

Đức vua Trần Nhân Tông

Chiến thắng Vân Đồn

Chiến thắng sông Bạch Đằng

Những hư cấu liên quan đến các vị vua thời nhà Trần (12)

Chân dung đức Thánh Trần

Vua Trần Nhân Tông-Anh hùng dân tộc kiêm triết gia thi sĩ

Đại Việt sử ký khảo luận (từ thời lập quốc đến thế kỷ 21)

Giới thiệu Việt sử đại cương

Bảo nghĩa hầu Trần Bình Trọng

Quang Trung hoàng đế

Nghiên cứu biên giới Việt Trung 

Mo^.t cuo^'n ngo.c pha? nhie^`u gia' tri. li.ch su+?

Go.i ho^`n Quo^'c To^? ...

 

Dòng s cn đại

Quân sử Việt Nam 

Tìm mo^.t Gandhi cho Vie^.t Nam

Nguo+`i lính Nguye^~n Xuân Phúc

 

Tư tưng Pht giáo

Đường về cõi Phật

Phật

Xuân Di Lặc xuân thái bình

Kính mừng đức Phật đản sanh

Chữ NHÂN

Hành trạng vô úy của Phật giáo Việt Nam

Khánh Đản 745 năm của đức Điều Ngự

Mahatma Gandhi

Tuyên ngôn d-o^.c la^.p cu?a nu+o+'c D-a.i Vie^.t

Pha^.t giáo Vie^.t Nam

Ða.i Vie^.t Chu+ Tôn Ðu+'c hành tra.ng

Trúc Lâm so+ To^?

Nhi. To^? Pháp Loa

Tam To^? Huye^`n Quang

Trúc Lâm d-e^. tu+' To^?

Thie^`n ho.c Vie^.t Nam

Tinh tha^`n dung hóa cu?a tu+ tu+o+?ng Vie^.t vo+'i chu+~ Lòng

Sri Aurobindo

Vô nha^'t d-a.i su+

Tam giáo do^`ng nguyên

Bưu hoa - tin t Vit Nam

Bưu hoa Việt Nam - Tiền tệ Việt Nam

Nhạc Phật giáo

Nhạc phẩm Phật hoàng Trần Nhân Tôn

Nhạc phẩm Hòa kính khiêm tu

Khối 8406

Ṭa Bạch ốc phản đối cộng sản Việt Nam

Báo chí Pháp đăng tin cộng sản Việt Nam đàn áp đối lập

 

  Đức Vua Trần Nhân Tông

-Tinh anh và tổng lực của tộc Việt-

 

 

 

Biên khảo : Trúc Lâm Phúc Lộc

(Quốc Lịch 4882, Phật Lịch 2546, ngày 16 tháng tư năm Quư Mùi tức 16/05/2003 dương lịch)

Chương Ba

Chiến lược pḥng thủ diện địa

 

Mùa thu tháng 8 năm 1284, Đức vua Trần Nhân Tông hạ lịnh cho Hưng Đạo Vương điều khiển các sắc quân của vương hầu, mở cuộc duyệt binh lớn ở Đông-bộ-đầu (tức bến sông Hồng phía trên cầu Long Biên gần dốc Hàng Than, Hà Nội ngày nay) rồi chia quân trấn giữ B́nh-Than cũng như các nơi trọng yếu. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đă phổ biến bài Hịch Chiến Sĩ với nội dung như sau (Đạo Phật và Ḍng Sử Việt, tác giả Đức Nhuận, trang 256-260):

 

«Ta thường nghe: Kỷ Tín đem thân chết thay, cứu thoát cho vua Cao Đế; ch́a lưng đỡ ngọn dáo, che chở cho vua Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than để báo thù cho chủ; Thân Khoát chặt tay mong cứu nạn cho nước; Kinh Đức một chức quan nhỏ mà liều ḿnh cứu vua Thái Tông thoát khỏi ṿng vây của Thế Sung; Cảo Khanh là bề tôi xa, dám mắng Lộc Sơn, quyết không mắc mưu kẻ nghịch tặc. Ngày xưa, các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ ḿnh v́ nước, đời nào mà chẳng có? Giả thử các bậc đó cứ khư khư giữ thói «nhi nữ thường t́nh», đến phải chết già ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách, cùng với trời đất muôn đời bất hủ!

 

Các ngươi vốn ḍng vơ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện xưa, nửa tin, nửa ngờ. Thôi, những chuyện xưa, ta chẳng nói đến nửa. Nay ta chỉ kể chuyện đời Tống, Nguyên mới đây: Vương Công Kiên là người thế nào? Tỳ tướng của ông là Nguyễn Văn Lập là người thế nào? Mà giữ thành Điểu Ngư nhỏ bằng cái đấu, đường đường chống với quân Mông-Kha đông hàng trăm vạn, khiến cho nhân dân Tống đến nay c̣n đội ơn sâu! Cốt Đăi Ngột Lang là người thế nào? Tỳ tướng của ông là Xích Tu Tư là người thế nào? Dám xông pha vào chỗ lam chướng xa xôi ngàn dặm, đánh bại quân Nam Chiếu trong vài tuần, khiến cho quân tướng đời Nguyên, đến nay c̣n lưu tiếng tốt!

 

Huống nữa, ta cùng các ngươi, sinh nhằm thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan, nh́n thấy lũ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà xỉ mắng triều đ́nh, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ; ỷ thế Hốt Tất Liệt mà đ̣i ngọc lụa, để thỏa ḷng tham không cùng; mượn danh hiệu Vận Nam vương để thu vàng bạc, vơ vét hết của khó có hạn. Thật khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, tránh sao khỏi tai vạ về sau?

 

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đ́a, chỉ căm tức chưa xẻ thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, ngh́n xác này gói trong da ngựa, cũng nguyện xin làm.

 

Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền cũng đă lâu ngày, thiếu áo mặc ta cho áo, thiếu cơm ăn ta cho cơm, quan nhỏ th́ ta thăng chức, lương ít ta cấp thêm bổng lộc, lúc di chuyển ta cho thuyền, đi bộ ta cấp cho ngựa, khi xông pha trận mạc, sống chết bên nhau; những lúc khao thưởng th́ cùng nhau nói cười vui vẻ. Cách cư xử so với Vương Công Kiện, Cốt Đăi Ngột Lang ngày trước nào có kém ǵ?

 

Nay các ngươi thấy chủ bị nhục mà không biết lo, nh́n quốc sĩ mà không biết thẹn. Làm tướng một nước, phải hầu quân giặc mà không biết tức, nghe nhạc thái thường để thết tiệc sứ mà không biết căm. Hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển, hoặc vui thú vườn ruộng, hoặc quyến luyến vợ con, hoặc chỉ nghĩ kế sinh nhai tư lợi mà quên việc nước, hoặc ham săn bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát. Nếu có giặc Mông Thát tràn sang, th́ cựa gà không thể đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, tấm thân quí ngàn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bịu con đ́u, việc quân cơ trăm sự ích chi; tiền của tuy nhiều không thể mua được đầu giặc; chó săn khỏe, không đuổi được quân thù; chén rượu ngon không thể làm cho giặc say chết; tiếng hát hay, không thể làm cho giặc điếc tai. Lúc bấy giờ, ta cùng các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào! Chẳng những thái ấp của ta không c̣n, mà bổng lộc các ngươi cũng mất; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi, mà vợ con các ngươi cũng nguy khốn; chẳng những xă tắc tổ tông ta bị giày xéo, mà mồ mả cha mẹ các ngươi cũng bị phát quật; chẳng những thân ta kiếp này bị nhục, mà đến trăm năm sau, tiếng dơ khôn rửa, tên xấu c̣n lưu, mà đến gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang tiếng là tướng bại trận. Lúc ấy, các ngươi dẫu muốn vui chơi phỏng có được không?

 

Ta bảo thật các ngươi: phải cẩn thận ngừa sự nguy hại như «châm mồi lửa trong đống củi», nên lấy điều tự răn như «kiêng canh nóng mà thổi rau nguội». Các ngươi hăy huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ, có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt ở cửa Khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở chốn Cảo Nhai. Như vậy, chẳng những thái ấp của ta măi măi vững bền, mà bổng lộc các ngươi cũng đời đời hưởng thụ; chẳng những gia quyến của ta được êm ấm gối chăn, mà vợ con các ngươi cũng được trăm năm sống xum họp ḥa vui; chẳng những tông miếu của ta được muôn đời tế lễ, mà tổ tông các ngưoi cũng được quanh năm thờ cúng; chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí, mà đến các ngươi, trăm năm về sau tiếng thơm lưu truyền; chẳng những danh hiệu ta không bị mai một, mà đến tên họ các ngươi cũng lưu truyền sử sách. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui vẻ phỏng có được không ?

 

Nay ta chọn lấy binh pháp của các danh gia, soạn làm một quyển, gọi là BINH THƯ YẾU LƯỢC. Các ngươi hăy chuyên chú luyện tập theo sách này, vâng lời ta dạy, th́ mới phải đạo thần tử, bằng khi bỏ sách này, trái lời dạy bảo của ta, suốt đời sẽ là kẻ nghịch thù.

 

V́ sao vậy? Bởi giặc Nguyên với ta là kẻ thù không đội trời chung, các ngươi cứ điềm nhiên, không biết rửa nhục, không lo trừ hiểm họa, không biết dạy quân sĩ; chẳng khác nào quay mũi giáo mà quy hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc, nếu như sau trận B́nh Lỗ mà ta phải tiếng xấu muôn đời th́ c̣n mắt mũi nào đứng trong trời đất nữa!

 

Ta viết bài hịch này để các ngươi hiểu rơ ḷng ta».

 

Sau bài hịch tướng sĩ này, toàn thể quân sĩ Đại Việt đă ư thức được kẻ thù trước mặt là ai đồng thời được vạch rơ chính nghĩa tất thắng hung tàn trong cuộc chiến kháng Nguyên qua đó đă nâng cao ư chí chiến đấu chống giặc ngoại xâm của quân nhân Đại Việt. Được khởi động ḷng yêu nước cũng như kích thích ḷng căm thù kẻ giặc xâm lăng, nhiều binh sĩ đă tự xâm vào cánh tay hai chữ Sát Thát, nghĩa là quyết tâm giết quân Mông-cổ. Nó là biểu thị cao độ tinh thần quyết tử để bảo vệ non sông của toàn thể quân đội Đại Việt.

 

Sự bố trí lực lượng của quân đội Đại Việt được ghi nhận như sau:

Ở mặt Đông-Bắc quân ta trấn thủ Vĩnh B́nh, Động Bàng, Nội Bàng, Vạn Kiếp, B́nh Than, chỉ huy mặt trận này là Quốc Công Tiết Chế Trần Hưng Đạo; đối phó với cánh quân Vân Nam ở phía Tây Bắc th́ giao cho Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật chỉ huy; phía Nam kinh đô ta xây dựng một số địa điểm pḥng thủ như Đà Mạc, A Lỗ và Đại Hoàng do Bảo Nghĩa Hầu Trần B́nh Trọng làm chỉ huy. Trên cùng, vị Tổng chỉ huy chiến trường là Đức Hoàng Đế Trần Nhân Tông. Sự hiện diện của ngài nơi chiến trường cũng như theo dơi chặt chẽ diễn tiến của mặt trận do đó đă có những quyết định phù hợp với thực tế chiến trường đă là một trong những nguyên do quyết định chiến thắng của ta. Chưa kể tới yếu tố tâm lư khi quân sĩ trông thấy vị Hoàng đế tổng tư lịnh quân đội thường xuyên xông pha tuyến đầu với họ đă là điều khích lệ lớn lao khiến cho quân ta có được tinh thần chiến đấu tuyệt vời khi đối mặt với kẻ thù.

 

Cũng cùng một tháng này, Thượng hoàng Trần Thánh Tông đă cho mời các kỳ lăo của cả nước vào thềm điện Diên-Hồng để chiêu đăi cũng như bàn kế sách chống giặc. Khi Đức Thượng Hoàng tŕnh bày t́nh h́nh nguy biến của nước nhà trước họa xâm lăng của Mông-cổ, th́ tất cả kỳ lăo đồng hô to «Phải đánh». Hàng ngàn lời hô nhưng chỉ một câu «phải đánh» nói lên ư chí đoàn kết của toàn dân một ḷng chống giặc. Đây là một trong những điểm nổi bật của thời nhà Trần tượng trưng cho nền dân chủ đại chúng. Hai cuộc hội nghị này được xem như một cuộc thăm ḍ dư luận xưa nhất của nhân loại. Chỉ riêng một điểm này không cũng đáng cho chúng ta tự hào về triều đại nhà Trần dưới sự lănh đạo của Đức vua Trần Nhân Tông. Hội nghị đầu được tổ chức ở bến B́nh Than vào mùa thu tháng 8 năm 1283 quy tụ các hàng vương hầu của triều đ́nh; Hội nghị Diên Hồng tổ chức tháng 8 năm 1284 quy tụ các kỳ lăo trong cả nước. Hai hội nghị này được tổ chức nhằm vào hai đối tượng khác nhau nhưng có cùng một mục tiêu. Qua hai hội nghị này, Đức vua Đại Việt đă xác quyết tinh thần chống giặc ngoại xâm qua việc vận động mọi người dân Việt từ trong triều đ́nh, vương tộc cho đến bên ngoài quần chúng. V́ ngài đánh giá cuộc chiến sắp xảy ra nay mai sẽ là rất cam go, khó khăn và nhiều gian khổ do bởi ta phải đối phó với một đạo quân xâm lược quá hùng hậu về nhân vật lực cũng như khí thế. Về mặt nước của chúng ta th́ nhỏ mà người lại ít, nếu không khéo vận động người dân và triều đ́nh trên dưới một ḷng th́ khó ḷng đánh thắng được kẻ thù. Nhà Trần dưới thời Đức vua Trần đă thành công đoàn kết trên dưới trong ngoài một ḷng chống giặc và nhờ vào yếu tố đó người dân của ta đă tạo nên những chiến thắng quyết định đánh bại cuộc xâm lăng của quân Mông-cổ. Đây cũng là ư nghĩa của câu thơ :

 

Cối kê cựu sự quân tu kư

Hoan diễn do tồn thập vạn binh.

Nghĩa

Cối kê việc cũ hăy nên nhớ,

Hoan, Diễn c̣n kia trăm ngàn quân.

mà Đức ngài đă cảm đề khi thấy quân ta tụ họp hàng hàng lớp lớp chuẩn bị ra chiến trường. Ư nghĩa khác của hai câu thơ đó là binh lính không cần đông chỉ cần quân tinh nhuệ, khéo huấn luyện, đoàn kết một ḷng là ta có thể thắng được giặc. Câu thơ được rút ra từ chuyện xưa nói về Việt Vương Câu Tiển chỉ với một ngàn quân tinh nhuệ đă đánh bại Ngô Phù Sai lấy lại được đất nước. Hơn nữa ngài c̣n nhắc với tướng sĩ rằng, Đại Việt c̣n một đạo quân dự bị hàng chục vạn người đang ở vùng Thanh Hóa lúc nào cũng sẳn sàng xuất trận. Điều nhắc nhở này đă có tác động tốt lên tinh thần ba quân trong suốt cuộc chiến. Chứng tỏ ngài vừa là bậc lănh đạo quân sự đại tài mà c̣n là nhà tâm lư tài ba biết lúc nào nên khích lệ tinh thần ba quân, cũng như dùng điều ǵ để khích lệ. Ngài đă tạo cho binh sĩ một cảm giác an toàn là lúc nào phía sau họ cũng có lực lượng dự bị sẳn sàng tiếp ứng bất cứ lúc nào khi họ bị nguy nan, do đó họ sẽ vững tâm hơn, can đảm hơn, quyết liệt hơn trong trận chiến bảo vệ đất tổ của ḿnh. Và thực tế đă chứng minh cho chúng ta thấy điều đó.

 

Trở lại vấn đề quân Mông-cổ muốn mở gọng kềm phương Nam để kềm chế Đại Việt bằng cách tấn công nước Chiêm Thành. Chỉ huy đoàn quân này do Toa Đô thống lănh đă hoàn toàn thất bại trước sự kháng cự mănh liệt của quân dân nước này. Với h́nh thức chiến tranh bán quy ước họ đă làm cho quân Nguyên (theo Bản kỷ của Nguyên sử 13 tờ 2b2-3 và 2b9-11) tan ră tháo chạy thảm hại «b́nh chương của Hồ Quảng hành tỉnh là A Lư Hải Nha xin tự đem thân ḿnh đến bờ biển thu thập đám tàn quân tan ră từ Chiêm Thành» -Lê Mạnh Thát, Toàn Tập Trần Nhân Tông-.

 

Thực tế chiến trường đă làm thất vọng Hốt-tất-Liệt khi tên này dự định mở mặt trận phương Nam để kềm chế quân ta. Hắn ta đă tức giận khi chỉ thấy xin quân tăng viện từ chiến trường mà không là tin chiến thắng nên tước soái ấn của Ô Mă Nhi để trừng phạt tên tướng này. Ngày 12 tháng 7 vua Nguyên chính thức ra lịnh cho con là Thoát Hoan cầm quân tấn công Chiêm Thành như Bản kỷ của Nguyên sử đă ghi. Sự thực «đây là một quyết định giả vờ, v́ đối tượng xâm lược chủ yếu của Thoát Hoan không phải Chiêm Thành, mà chính là Đại Việt».

 

Theo tác giả Lê Mạnh Thát th́ vua nhà Nguyên đă tổ chức một bộ máy quân sự khổng lồ sang xâm lược nước ta. Bao gồm A Lư là tướng có công trong các trận hạ thành Tương Dương, Ngạc Châu, Phàn Thành, Tỉnh Giang, Giang Lăng và nhiều chiến trường khác. C̣n phải kể Lư Hằng, người dứt điểm nhà Tống trong chiến dịch Nhai Sơn. Một số cận tướng với A Lư như Áo Lỗ Xích, Tŕnh Bằng Phi, Ô Mă Nhi, Toa Đô, Phàn Tiếp. Phải nói là bộ tham mưu này đă tập trung những tướng lănh dày dặn kinh nghiệm nhất của quân Nguyên trong chiến dịch xâm lăng nước Đại Việt.

 

Ngày 21 tháng 12 năm Giáp Tư (1284) quân Mông-cổ do Thoát Hoan cầm đầu đă tràn xuống tới biên giới của nước ta. Thoát Hoan đă cho lư vấn quan Khúc Liệt (Kütä) và tuyên sứ Tháp Hải Tân Lư (Taqai Sarïq) cùng Nguyễn Đại Học đem thư của A Lư đ̣i nước ta mở đường và cung cấp lương thực cho họ đi đánh Chiêm Thành. Đức vua của ta trả lời rằng «Từ nước tôi đến Chiêm Thành, thủy bộ đều không tiện». Song song ngài hạ lịnh cho Hưng Đạo Vương mang quân trấn thủ biên giới. Trong khi các phái bộ ngoại giao Nguyên-Việt tiếp tục qua lại trao đổi công hàm ngoại giao th́ quân Nguyên tiếp tục ào ạt tiến đến Lộc Châu (tức huyện Lộc B́nh tỉnh Lạng Sơn ngày nay). Thoát Hoan sai Đà tổng là A Lư sang nước ta nói rơ về lư do chuyển quân là đi đánh Chiêm Thành chứ không có ư ǵ khác. Trong khi đó quân Mông-cổ tiếp tục tiến quân vào nội địa nước ta, khi chúng tiến tới núi Kheo Cấp th́ bị quân ta anh dũng chận đánh không thể tiến lên được.

 

Khi nghe tin quân Nguyên kéo tới Lộc Châu, nhà vua đă nhanh chóng điều động quân lính đến trấn thủ các ải Khâu Ôn và Khâu Cấp Lănh. Ngày 21 tháng 12 năm Giáp Thân (tức 27 tháng một năm 1285) Thoát Hoan và A Lư Hải Nha đă chia quân ra hai hướng để tấn công. Cánh quân phía Tây do Vạn Hộ Lư, La Hợp Đáp Nhi (Bolqadar) và chiêu thảo Athâm (Atsin) chỉ huy do đường huyện Khâu Ôn tiến xuống. Cánh quân phía Đông do khiếp tiết Tản Đáp Nhi Đăi (Tatartai) và vạn hộ Lư Băng Hiến

 

Theo An Nam truyện của Nguyên Sử 209 tờ 6a3-b2 -Toàn Tập Trần Nhân Tông, Lê Mạnh Thát- ghi vào lúc hai quân đội Đại Việt và Mông-cổ sắp sửa giao tranh với nhau do t́nh h́nh quân Nguyên đă tiến sâu vào nước ta cũng như quân nước Việt đă chia nhau pḥng thủ các nơi hiểm yếu của đất nước th́ đại phu Nguyễn Đức Dư và triều thỉnh lang Nguyễn Văn Hàn thừa lịnh của Đức Hoàng Đế Trần đem thư tới gặp Thoát Hoan để yêu cầu lui binh, đồng thời nhắc thêm điều mà Hốt-Tất-Liệt đă nói năm 1261 là «sắc riêng cho quân ta không vào bờ cơi nhà ngươi». A Lư Hải Nha đă giữ Nguyễn Văn Hàn lại và cho tổng bản A Lư đi cùng với Nguyễn Đức Dư trở lại triều đ́nh Đại Việt cùng với thư trả lời, ngụ ư rằng «sở dĩ dấy quân là v́ Chiêm Thành chứ không phải v́ An Nam». Nhưng A Lư đến huyện Cấp Bảo th́ quân ta do quản quân Nguyễn Lộc chỉ huy, các thôn Lư, huyện Đoản, Vạn Kiếp đều có quân của Trần Hưng Đạo trấn đóng nên họ không thể đi tiếp được. A Lư Hải Nha sai Nghê Nhuận đi thám sát t́nh h́nh. Chẳng lâu sau đó, đă gặp sự kháng cự của quân ta ở ải Khả-Ly (thuộc Lạng Sơn) có nơi chép là Khả-Lợi. Tại nơi đây chúng tràn qua được tuyến pḥng thủ của quân ta trấn giữ và tiếp tục tiến xuống miền đồng bằng do cánh quân phía Đông của Tản-Lược-Nhi và tới ải Nữ-Nhi (Toàn Thư, Cương Mục) c̣n An-Nam Chí-Lược gọi là ải Anh-Nhi. Ở đây chúng bắt và giết một nhân viên do thám của Đại Việt là Đỗ-Vĩ tướng quân. Quân ta chiến đấu chống giặc Nguyên ở núi Khâu (hay Kheo) Cấp vẫn không phân thắng bại v́ hai ải Khả-Ly và Nữ-Nhi đă thất thủ, v́ vậy quân ta phải rút về cố thủ ở ải Chi Lăng (thuộc Ôn Châu, tỉnh Lạng Sơn).

 

Tại ải Chi Lăng mặc dù quân ta chiến đấu anh dũng nhưng không thể nào đương cự được quân địch đông đảo gấp bội phần nên đành phải cấp tốc rút về trấn giữ bến Vạn Kiếp (tỉnh Hải Dương) là nơi Hưng Đạo Vương đặt tổng hành dinh điều khiển mặt trận miền Bắc (trước đây được đặt tại ải Nội Bàng). C̣n về các hướng khác có Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư đóng quân tại Vân Đồn (thuộc Vân-Hải, tỉnh Quảng Yên); mặt Tây Nam có thượng tướng Trần Quang Khải đóng quân ở Nghệ-An án ngữ các nơi hiểm yếu để chống quân của Toa-Đô.

 

Ở đây cần nói thêm về vai tṛ của Đức vua Trần Nhân Tông về vị thế chỉ huy của ngài. Như chúng ta đều biết rằng, Đức ngài là một vị vua kiêm cả việc thống lănh quân đội cũng như cai quản triều chính (chính trị), trong t́nh thế đất nước bị xâm lăng ngài không thể nào đóng quân một chỗ với một lực lượng trú pḥng để ngăn giặc được, nhất là phải đối phó với đạo quân xâm lăng là quân Nguyên có tiếng là rất năng động. Để đáp ứng t́nh thế trước mặt, ngài cùng với Thượng hoàng Trần Thánh Tông (sau khi đă phân chia các nơi đồn trú cố định cho các vị tướng quân) họp thành một bộ chỉ huy lưu động. Với bộ chỉ huy lưu động này sẽ tiết kiệm được quân lính pḥng thủ diện địa, vừa bảo vệ thành quách cũng như hộ vệ cho nhà vua, đồng thời có thêm người có thể ra chống giặc ở tuyến đầu. Hơn nữa khi đóng quân một chỗ th́ bộ phận quân sự sẽ cồng kềnh hơn, nặng nề hơn trong việc chống giặc. Cho nên với bộ chỉ huy lưu động này (ngày nay ta gọi là Task Force), Đức Hoàng Đế Trần sẽ theo dơi diễn tiến t́nh h́nh chiến trường một cách xác thực nhất, đồng thời có thể đưa ra những mệnh lệnh cần thiết và kịp thời để xoay chuyển t́nh h́nh có lợi cho đại cuộc. Ngày xưa khi chưa có trực thăng hoặc chiến xa, th́ bộ chỉ huy lưu động của ngài khi th́ sử dụng ngựa khỏe, voi tốt hoặc thuyền nhẹ để tiện bề đi tới gần mặt trận nhất, gặp gỡ nhanh nhất với các vị tướng.

 

Trong Cương Mục cũng như Toàn Thư không thấy ghi bao nhiêu binh lính được phái theo bảo vệ ngài cũng như thượng hoàng Trần Thánh Tông. Nếu không là người can đảm phi thường làm sao một vị vua có thể di chuyển như vậy giữa t́nh thế dầu sôi lửa bỏng, và trong t́nh huống có thể chạm trán với quân Nguyên bất cứ lúc nào, và ta cũng đều thấy ngài xuất hiện ở những mặt trận nặng nề nhất. Đây là điều mà các nhà viết Sử, cỗ cũng như kim, không thấy đề cập tới. Do v́ phải di chuyển thường xuyên nên đôi khi lực lượng bảo vệ cho ngài chẳng có là bao. Như khi ngài nghe tin các ải Chi Lăng, Nội-Bàng bị thất thủ, quân ta lui về giữ bến Vạn Kiếp, Đức Hoàng đế Trần đă vội vàng di chuyển bằng thuyền nhẹ ra Hải Đông (chỉ chung vùng Hải Dương cũ nay thuộc tỉnh Hải Hưng và Hải Pḥng hiện nay) để được biết thêm tin tức, do v́ phải bôn ba vất vả đồng thời lo lắng cho quân t́nh nên ngài không kịp ăn sáng và lúc mặt trời đă về chiều th́ có người lính tên là Trần Lai dâng cơm hẩm cho vua dùng. Ngài khen là người trung nghĩa và đă ban thưởng chức thượng phẩm, kiêm tiểu tư xă xă Hữu Triều Môn ở Bạch Đằng.

 

Khi hội ngộ, đức ngài đă ra lịnh cho Hưng Đạo Vương điều động quân lính các lộ Hải Đông, Vân Trà, Ba Điểm (Vân Trà Ba Điểm là hai hương lộ thuộc Hải Đông bấy giờ. Hương Vân Trà hay Trà Hương là vùng Kim Thành, tỉnh Hải Hưng ngày nay), chọn những người dũng cảm làm tiên phong, vượt biển vào Nam để trợ chiến với quân bạn. Nhờ sự tăng viện kịp thời,  tinh thần binh sĩ của ta mới được phấn chấn trở lại sau những thất bại liên tiếp ở các chiến dịch biên giới phía Bắc.

 

Các vị Hưng Vũ Vương Nghiễm, Minh Hiển Vương Uất, Hưng Nhượng Vương Tảng, Hưng Trí Vương Hiện cùng với 20 vạn quân tinh nhuệ ở các xứ Bàng Hà (đất huyện Thanh Hà cũ nay thuộc huyện Nam Thanh, tỉnh Hải Hưng và huyện Tiên Lăng, Hải Pḥng), Na Sầm (tức Na Ngạn, thuộc đất huyện Lục Ngàn, tỉnh Hà Bắc ngày nay), Trà Hương, Yên Sinh, Long Nhăn (thuộc Yên Dũng tỉnh Hà Bắc) tập trung đến Vạn Kiếp theo sự điều khiển của Hưng Đạo Vương để chống giặc.

Vào ngày 26 tháng chạp năm Giáp-thân (1284) giặc Nguyên tấn chiếm các ải Vĩnh-Châu, Nội-Bàng, Thiết-Lược và Chi-Lăng. Trong đó Nội-Bàng là một chiến trường khá quan trọng cho ṿng đai pḥng thủ kinh thành Thăng Long. Tại Nội-Bàng khi quân ta phải rút lui vội vàng th́ Hưng Đạo Vương có hai gia tướng là Yết Kêu và Dă Tượng, Vương dự định di chuyển bằng đường núi, nhưng Dă Tượng nói rằng nếu Yết Kêu chưa gặp Vương th́ ông ta nhất định không đưa thuyền rời bến. Hưng Đạo Vương vội đến bến đ̣ Băi, quả thấy chỉ c̣n độc nhất chiếc thuyền của Yết Kêu đang ở đó để chờ Vương tới cùng đi. Hưng Đạo Vương rất mừng và nói: «chim Hồng và chim Hộc bay được cao, tất phải nhờ có lông cánh mạnh, nếu không th́ chả khác ǵ chim thường». Nói xong liền đi thuyền cùng với Yết Kêu và Dă Tượng về họp cùng quân lính các lộ trấn giữ Vạn Kiếp và Bắc Giang.

Sự rút quân vội vă như thế cho ta thấy t́nh thế rất bức bách đối với quân đội của ta, đồng thời ngoài dự tính của Đức Hoàng Đế Trần cũng như Hưng Đạo Vương. Ấy thế, kẻ thù vẫn không buông tha. Quân Nguyên đuổi theo đoàn quân triệt thoái và chúng chia ra hai ngả để tấn công vào cứ điểm Vạn Kiếp. Tại đây quân Đại Việt phải lùi thêm một bước nữa và bị thiệt mất 20 vạn chiếc thuyền về tay giặc. Thừa cơ quân ta rút lui, chúng cướp phá, giết chóc xem như chỗ không người, đồng thời tiến chiếm các cứ điểm Gia Lâm, Đông Ngàn. Ở hai nơi này hễ bắt được người lính nào của ta trên tay có xâm hai chữ «sát thát» trên cánh tay đều bị Mông-cổ giết thẳng tay.

 

Sau khi các pḥng tuyến Vin-Châu, Nội-Bàng, Thiết-Lược và Chi-Lăng lần lượt thất thủ sau 5 ngày tấn công của giặc, Vua Trần Nhân Tông đă phải thay đổi chiến lược chống giặc. Theo giáo sư Lê Mạnh Thát ghi trong Toàn Tập Trần Nhân Tông trang 63 th́ «có thể nói, nó cho thấy chủ trương tác chiến ban đầu của vua Trần Nhân Tông và Trần Hưng Đạo h́nh như là đưa quân lên chận giặc ngay tại những vùng địa đầu biên giới của tổ quốc theo chiến lược Lư Thường Kiệt đă làm hơn 200 năm trước».

 

Dựa theo đoạn trên xin mời quư đọc giả lùi lại một chút vào thời điểm quân đội Đại Việt cử quân chinh phạt nước Tống năm 1075. Dưới thời vua Lư Nhân Tông, để cảnh cáo nhà Tống trong mưu đồ xâm lược nước ta, triều đ́nh đă chấp thuận đề nghị của danh tướng Lư Thường Kiệt trong việc phạt Tống. Lư do đưa ra là đ̣i nhà Tống phải trả lại Nùng Thiện Mỹ và 700 thuộc hạ làm loạn trong xứ ta và đào tỵ sang Tàu. Ông tâu rằng: «Ngồi im đợi giặc, không bằng đem quân ra trước để chận thế mạnh của giặc». Đây là sách lược chiến tranh pḥng ngự, nghĩa là đánh pḥng hờ. Lực lượng quân sự trong công cuộc Bắc phạt của Lư Thường Kiệt bao gồm từ sáu đến mười vạn người được chia ra hai đạo thủy lục. Hướng tiến quân nhằm đánh vào các cứ điểm quân sự của nhà Tống ở các đồn biên giới, các cửa biển như Khâm Châu, Liêm Châu và mục tiêu chính là thành Ung Châu.

 

Ngày 27/10/1075 ngày quân đội Đại Việt lên đường Bắc tiến. Quân ta tiến như chẻ tre, lần lượt nhổ đi các đồn canh biên giới của giặc, ngày 30/12/1075 chiếm được thành Khâm Châu, bắt sống toàn bộ quan quân mà không phải giao tranh một trận nào; ngày 2/1/1076 hạ thành Liêm Châu bắt sống 8000 thổ binh; 42 ngày sau ta hạ được thành Ung Châu, đây là cuộc chiến được ghi nhận là khó khăn và khốc liệt. Sau chiến thắng thần tốc, ư thức rằng mục đích đă đạt được là làm giao động tinh thần giới lănh đạo nhà Tống cũng như xáo trộn mưu đồ xâm lăng nước ta, Lư Thường Kiệt đă ra lịnh cho toàn thể đạo quân Bắc phạt nhanh chóng rút về nước chuẩn bị đánh trả đ̣n phục thù của giặc.

Tác giả Hoàng Xuân Hăn ghi lại cách bố pḥng của quân ta như sau trong sách Lư Thường Kiệt «Xét qua địa thế, ta hiểu rằng Lư Thường Kiệt đem chủ lực chận con đường từ trại Vĩnh B́nh đến sông Nam Định (sông Cầu), bằng cách đặt những doanh đồn và phục binh ở hai ải tiếp nhau: ải Quyết Lư ở phía Bắc Châu Quang Lang và ải Giáp Khẩu (Chi Lăng) ở phía Nam châu ấy. Nếu hai pḥng tuyến bị tan th́ phải cố thủ ở pḥng tuyến thứ ba, tức nam ngạn sông Nam Định.

Muốn cản quân Tống qua sông, Lư Thường Kiệt sai đắp đê Nam Ngạc cao như bức thành. Trên thành, đóng tre làm giậu, dày đến mấy từng. Thành đất lũy tre, nối với dăy núi Tam Đảo, đă đổi thế sông Nam Định và bờ nam ngạn ra một dăy thành hào, che chở cả vùng trung nguyên nước Việt. Thành hào ấy dài gần trăm cây số, hẳn khó qua và dễ pḥng thủ hơn là thành hào một đồn lẻ như thành Thăng Long».

Cách bố pḥng của quân Đại Việt dưới thời Đức vua Trần Nhân Tông cũng tương tự bằng cách lập một loạt các ải địa đầu, nếu một ải thất thủ th́ lui về giữ ải thứ nh́, cứ thế mà làm cho đến ải sau cùng. Tuy nhiên vào lúc này chiến lược đó đă không thành công như cách đây 200 năm. Lư do là v́ quân Nguyên có khác với quân Tống về tinh thần cũng như khí thế. Do đó Đức vua Trần và Hưng Đạo Vương đă đi đến quyết định thay đổi chiến lược hành quân sau cuộc họp ở Hải-Đông. Chiến lược mới vừa đánh vừa rút, vừa tổ chức pḥng thủ đồng thời chọn lựa thời điểm và chiến trường thích hợp nhất để phản công đánh bại kẻ thù.

 

* Mời xem tiếp Chương Bốn ->

 

 

 

 

 email: truclamyentu.ifrance.com

Trúc Lâm Yên T @ 04/2004