Đại
Việt Chư Tôn Đức
Hành Trạng
(Tiểu sử và Tư Tưởng)
Phụng
soạn ngày 22 tháng 5 Phật lịch 2545
(nhằm
ngày 12/07/2001)
Trúc Lâm Lê An B́nh
Dẫn Nhập
Sưu tập
và biên soạn về tiểu sử cũng như tư tưởng của chư vị Tôn Đức Tăng Già,
Thiền sư cũng như Cư sĩ Phật giáo là
một chuyện không giản dị.
Phật giáo
được truyền vào nước Việt từ hơn 2000 năm nay. Từ đó đến nay Phật giáo
đă cùng với đất nước và dân
tộc Việt trải qua những thời kỳ vinh quang có, huy hoàng có, nhưng cũng không
thiếu khi tủi nhục, đen tối v́ đất
nước bị chiếm đóng bởi quân ngoại xâm. Có thể nói PG c̣n th́ dân tộc c̣n, và ngược lại.
Cho nên Phật Giáo và Dân Tộc Việt đă quyện lại thành một, PG ngay từ khi truyền vào nước ta, đă không c̣n là PG của Ấn Độ mà nó đă được
biến thể, dung hóa trở thành một
thứ PG dân tộc, hay nói một cách khác Phật
Giáo Việt Nam. Nói ngắn hơn là Phật Việt hay
Việt Phật. Đây là một trong
những điểm vượt trội.
Nhưng làm
thế nào PG lại được dung hóa
để trở thành PG dân tộc như vậy? Nó
đến từ hai yếu tố. Một
đến từ giáo lư Vị Tha Vô Ngă của Phật giáo; Hai là đến
từ tâm hồn phóng khoáng cởi mở của dân tộc Việt cũng như hoàn cảnh tự vệ của chúng ta để chống
lại sự xâm thực của
người Tàu, thực dân Pháp cũng như xâm lược Cộng sản.
Sự tích Chư Tăng Thạc
Đức được ghi chép một cách tản mát
ở các quyển Sử khác nhau. Riêng
về Thiền tông, được xem là trụ cột chính của Phật Giáo Việt Nam,
tiểu sử của các vị Thiền sư được
biên chép qua tác phẩm Thiền Uyển Tập Anh hoặc
một tên gọi khác là Đại Nam Thiền Uyển
Truyền Đăng Tập Lục. Về tác phẩm này được ghi nhận là biên
chép và phổ biến vào thời nhà
Trần ( ?), sau đó v́ các cuộc
chinh chiến cũng như bị ngoại thuộc, được chép lại
đôi ba lần khác nhau. Ấn bản mới
nhất được xuất bản vào năm 1999 mang tên
Nghiên Cứu Về Thiền Uyển Tập Anh
do tác giả Lê Mạnh Thát (tức
Thượng tọa Tiến sĩ Thích Trí Siêu)
dầy công biên soạn đă tổng kết
những bản văn cũ.
Riêng quyển
sách Đại Việt Chư Tôn Đức
Hành Trạng (Tiểu sử và Tư Tưởng), chỉ là tiếp
nối những công việc của các bậc tiền
bối hầu góp phần nhỏ bé vào việc
truyền bá văn hóa PGVN đến mọi tầng lớp
người khác nhau. Ở trong quyển
sách này, chúng tôi ghi chép lại sự tích cũng
như tư tưởng
của tất cả các vị đă có công với sự phát triển của Phật Giáo Việt Nam, không
kể vị đó là Tăng sĩ hay Cư sĩ. Công việc th́ nhiều, dự định không phải nhỏ, nhưng sức
người th́ giới hạn nên chắc chắn có
những sự sơ sót không thể tránh khỏi, kính mong Chư Tăng Thạc Đức, chư vị Thiện Hữu Tri Thức
mười phương pháp giới từ bi chỉ giáo.Nguyện
đem công đức này cùng pháp giới chúng sanh
đồng sanh Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đồng Thành Phật Đạo.
Chân thành đa
tạ.
Kính mời
chư quư liệt vị lần dỡ lại những trang sử truyền bá của Phật Giáo Việt Nam
Phần I
Từ Thời Phật Giáo Mới Du Nhập
Đến Đầu Thế Kỷ Thứ Mười
1/ Sư Phật Quang ( ?) : Theo Lĩnh Nam Trích Quái biên chép
th́ vợ chồng Chử Đồng Tử và Tiên Dung,
đi buôn trên biển, ghé ngang núi Quỳnh Viên, tọa lạc
tại cửa Sót, theo sử sách biên chép
lại th́ cửa Sót là biên giới thuộc về phía Nam giữa nước Việt thời Hùng
Vương và vương quốc Chiêm Thành. Trên núi có
một am nhỏ (chùa Hang Cốc hiện nay),
trong đó có một vị Sư pháp danh là Phật Quang.
Vị Sư này đă truyền dạy giáo lư PG cho Chử Đồng Tử, ông c̣n tặng một
chiếc gậy và cái nón và nói rằng: «Các việc linh thông
đều ở đó rồi». Sau khi
rời khỏi Sư Phật Quang
Chử Đồng
Tử trở về nhà và truyền PG cho Tiên Dung công chúa.
Trong truyện
Lĩnh Nam Trích Quái biên chép về sự tích của nhà Sư Phật Quang,
chỉ nhắc tên người nhưng không
đề cập ǵ đến niên
đại, cũng như gốc gác. Tuy
nhiên đây là đầu mối duy
nhất để PG được truyền
vào Việt Nam nên người viết mới liệt kê vào,
mong rằng những cuộc nghiên cứu vào khai quật vùng
này sẽ cho chúng ta biết thêm
nhiều chi tiết nữa liên quan đến vị này. Nói về mặt tư tưởng của Sư Phật Quang, ta
cần chú ư ở câu nói: «Các việc linh thông
đều ở đó rồi» khi ông
đưa cây gậy và chiếc nón cho Chử Đồng Tử, cho ta một số khái niệm về buổi ban
đầu khi PG được truyền vào nước ta.
Nghĩa là những quan niệm PG đầu tiên đó là về quyền
lực linh ứng, hay nói một cách khác là về những việc tŕ niệm thần chú của
Mật tông.
Mật Tông nói
cho đủ là Chân Ngôn Tông lấy bộ Kinh Đại Nhật và Kinh Kim-Cang Đảnh
làm căn bản tu hành. Người tu theo pháp môn này th́
giữ ǵn rất cẩn thận thân, khẩu và
ư, song song nương vào oai thần của Linh Phù, Chơn
ngôn và Pháp ấn để được
cảm thông với chư Phật,
được vào ṿng hào quang của Đức Đại
Nhật Như Lai. Khi tŕ niệm, hành giả có đầy đủ sức thần
như Phật, họ gọi tông
của ḿnh là Mật tông, c̣n những tông phái khác của
Phật giáo là Hiển tông. Mật tông đặc biệt
thịnh hành ở Ấn Độ cũng như Tây Tạng.
Như các vị Thiện Vô Úy
(Subha-karasimha, 637-735), thuộc Trung Ấn, ngài Kim-Cương-Trí
(Vajra-bodhi, 671-741), người Nam Aán và ngài Bất Không Kim
Cương (Amoghavajra, 705-774) người Tích Lan đă làm cho Mật Tông thịnh hành trong nước
Ấn mà c̣n truyền bá sang
Trung Hoa. Ngài Liên Hoa Sinh (Padmasambava) đă đem Mật Tông truyền sang Tây Tạng và sáng
lập Lạt Ma Giáo tại đây.
Vào thời
điểm mà Sư Phật Quang
truyền PG cho Chữ Đồng
Tử, th́ ư niệm Mật Tông không nằm trong chiều
hướng vừa nêu. Trong Phật giáo có 3 pháp môn tu
để đạt sự chứng ngộ, đó là Giới,
Định, và Huệ. Khi hành giả đạt
đến mức tối cao của sự tịch tĩnh tâm hồn (nói một cách khác là
giác ngộ, nhưng giác ngộ ở đây được chia làm
nhiều giai bậc khác nhau. Sở dĩ chia như vậy là do công
phu tu tập của mỗi người) th́ họ sẽ chứng được
đắc được một số thần thông, cụ thể là Lục Thông. Đó là Thiên nhăn thông
(thấy mọi vật trong vũ trụ), Thiên
nhĩ thông (nghe được tiếng nói ở khắp nơi), Túc mạng thông (biết
được chuyện quá khứ, hiện tại, vị lai của ḿnh cũng như của người khác), Tha tâm thông (đoán
biết rành rẽ tâm ư người khác),
Thần túc thông (có khả năng biến
hiện, đi khắp nơi trong thiên hạ), Lậu
tận thông (dứt hết các phiền năo hữu lậu,
không c̣n chấp Vật và Ta nữa). Năm phép trước, vẫn c̣n
nằm trong sanh tử luân hồi,
trừ phi đắc chứng phép thứ sáu mới thoát được sinh tử luân hồi đạt tới niết bàn
thật sự, đây là phép thần
thông của chư vị A La Hán, Bích Chi và Phật.
Qua đó ta thấy được tâm lư của
người Việt thưở ban đầu
khi tiếp nhận PG với sự mong ước
có được một sức thần thông khác
thường để mong làm
phương tiện tự vệ cho dân tộc lúc đó đă và đang chống trả âm mưu xâm
lăng của người Trung Hoa. Sở dĩ dân ta dễ dàng chấp nhận PG và biến PG trở thành PG dân tộc, v́ phù hợp với tâm lư cùng
tập quán của người dân Việt. Trước khi
PG được truyền vào xứ ta, th́ chúng ta
đă sẳn có một hệ thống tư tưởng
dựa trên hai nền văn minh Đông Sơn và
Lạch Trường. Với hai nền văn minh này
tổ tiên chúng ta đă tôn thờ các hiện tượng của trời
đất như sấm, sét, mưa, gió, cung
kính các anh hùng vị quốc vong
thân, cũng như thờ phụng tổ tiên. Song song dân
ta rất mến chuộng các cuộc lễ lạc cũng như cúng tế thần linh, chuộng lối sống thoát
tục ở những nơi núi cao
hiểm hóc v.v…Với tâm lư và phong tục như thế, cũng như hoàn cảnh
phải luôn luôn tự vệ trước sự bành
trướng của phương Bắc, việc dễ
dàng tiếp nhận Phật Giáo là chuyện đương
nhiên.
2/ Chữ Đồng Tử và Tiên Dung Công
Chúa ( khoảng thế kỷ thứ 2 hoặc 3 trước Tây lịch) : có thể nói hai vị này là những
cư sĩ đầu tiên của Phật giáo Việt Nam.
Về niên đại xuất hiện của
họ chỉ thấy biên
rằng Vua Hùng truyền ngôi vua đến cháu ba
đời, tức thời Hùng Vương thứ 3, có thể là triều Hùng
Nghị Vương (triều đại Hùng
Vương truyền nhau đến 18 đời từ 2879 năm đến 257 năm trước Tây
lịch), có sinh được một người con gái
rất xinh đẹp tên là Tiên-Dung Mỵ-Nương. Công
chúa rất thích du ngoạn, và trong một chuyến ngắm
thưởng phong cảnh bên ngoài đă gặp gỡ Chử Đồng
Tử và cùng ông kết nghĩa phu thê. Tuy nhiên
sự việc này đă khiến Vua cha
nổi giận, và không cho công chúa được trở về cung đ́nh nữa. Để kiếm cách sinh
sống, Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa đă mở chợ để buôn bán, chợ đó ngày nay gọi là Hà-Lơa. Một hôm có người
lái buôn bảo rằng nên bỏ vàng ra
để ra khơi buôn đồ quư, Tiên Dung đă khuyên Chử Đồng Tử nên đem vàng ra
biển để đi buôn. Trên
đường đi đă ghé núi
Quỳnh-Viên và hội ngộ cùng nhà Sư Phật Quang (đă tŕnh bày ở trên) được truyền pháp khí và Phật
giáo. Núi Quỳnh Viên ngày xưa nay gọi là Mẫu Sơn.
Sau khi Chử Đồng Tử nhận pháp khí từ nơi Sư Phật Quang, ông trở về nhà và truyền trao giáo lư này cho Tiên Dung công chúa.
Cả hai người từ đó bỏ việc buôn bán cùng nhau đi t́m thầy học
đạo. Với chiếc gậy và cái nón đó, nhị vị Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa đă thực
hiện nhiều phép lạ để cứu người cũng có, để răn chừng những tâm ư xấu cũng không
thiếu. Có lần Vua Hùng nghe tin Tiên Dung công chúa có
được lầu đài cùng
người gác không khác cung điện, nhà vua nổi
giận sai quân lính đi đánh v́ nghĩ con ḿnh làm loạn. Tuy nhiên, sau một đêm quân lính đóng ở băi Tự-Nhiên, một trận gió lớn và sóng
lớn nổi lên thành quách của Chử Đồng
Tử cùng Tiên Dung công chúa đồng thời
nhổ đi bay lên trời, đất nơi
ấy sụp xuống thành một chiếc đầm
lớn. Sáng hôm sau dân trong làng thấy việc linh dị như vậy bèn lập
đền thờ, đặt tên nơi ấy là
Đầm Một Đêm
(Nhất-Dạ-Trạch). Trong dân gian đă tôn Chử Đồng
Tử là Đạo Tổ của
Trường Đạo Nội. Trường Đạo
Nội là dựa theo lư lẽ Tự Nhiên, nghĩa là thuận theo ḷng trời,
chuộng sự trường sanh bất
tử, cứu dân thoát khỏi bệnh tật như giúp cải tử hoàn sanh
những người bị ôn dịch hành
chết ở làng Ông-Đ́nh, hoặc phù tŕ đất nước khi gặp
nguy biến như sự tích Triệu Quang Phục nhận
được móng rồng từ nơi vị thần cỡi rồng từ trời hạ xuống khi ông
cầu đảo ở đầm (mà
xưa kia xưng là) Nhất-dạ thăng-thiên
để chống quân nhà Lương
của Tàu. Sau khi đẩy lui quân nhà Lương về Tàu, ông bèn tự xưng là
Triệu Vương, đóng đô ở quận Vũ–Ninh, núi Trâu-Sơn.
3/ Bát Nàn Phu Nhân
( ?): bà là một trong những nữ tướng
của nhị vị Trưng Vương. Năm 43 sau Tây lịch khi
cuộc khởi nghĩa chống quân Nam Hán bị thất bại, Hai Bà Trưng tự vẫn, Bát Nàn Phu Nhân bị thương đă gia nhập vào
các giáo đoàn PG để t́m cách chống
lại quân xâm lăng Trung Hoa dưới h́nh thức khác. Bà
sinh năm nào và mất năm nào không thấy có tài liệu
nào ghi chép cả. Bà là một trong những người đă gom góp, biên chép các sự tích từ thời Hùng Vương cũng như một số giáo lư căn
bản của PG được truyền vào nước ta
trước khi có sự chiếm đóng của quân Nam Hán, từ đó góp phần hoàn thành quyển
Lục Độ Tập Kinh, một bộ Kinh Phật Giáo bằng tiếng Việt,
một nền tảng văn hóa và tư tưởng để cho dân tộc
làm phương hướng đề kháng lại cuộc xâm thực khắc
nghiệt của quân Nam Hán.
4/ Sư Khâu Đà La (thế kỷ thứ 2 sau Tây lịch):
Phần II
Từ Thế Kỷ Thứ Mười Đến
Đầu Thế Kỷ Thứ Mười Lăm
Phần III
Từ Thế Kỷ Thứ Mười Lăm
Đến Đầu Thế Kỷ Thứ Hai Mươi
Phần IV
Từ Thế Kỷ Thứ Hai Mươi Đến
Đầu Thế Kỷ Thứ Hai Mươi Mốt
Phần V
Cuối
Quyển Sách
Trúc Lâm Lê An B́nh
________________________
Sách vở tham khảo
Tiếng
Việt :
1. Tư Tưởng
Việt Nam, tác giả cố Giáo sư Nguyễn
Đăng Thục, nhà sách Khai
Trí phát hành, 1964, Sài G̣n Việt Nam.
2. Văn Minh Việt Nam, tác giả cụ Lê Văn Siêu, nxb Đông Nam Á tái bản, 1985, Paris Pháp quốc.
3. Lịch sử Phật Giáo Việt Nam, tác giả Lê Mạnh Thát, nxb Thuận Hóa, 1999, Việt Nam.
4. Lược Sử Phật Giáo Ấn Độ, tác giả Thượng tọa Thích Thanh Kiểm, nxb Quê
Hương, 1972, Sài G̣n Việt Nam.
5. Phật Học Từ Điển, tác giả Đoàn Trung C̣n,
nxb Trí Đức Ṭng Thư, 1967, Sài G̣n Việt Nam.
6. Việt Sử Toàn Thư, tác giả Sử gia Phạm Văn Sơn, Hiệp Hội
Người Việt Tại Nhật tái bản, 1983.
7. Đạo Phật Và Ḍng Sử Việt, tác giả Đức
Nhuận, nxb Phật Học Viện Quốc Tế tái bản lần thứ nhất tại
Hoa Kỳ, 1995-1996.
8. Phật Giáo Và Quốc
Đạo Việt Nam, tác giả Lư Khôi Việt,
Viện Tư Tưởng Việt
Phật xuất bản 1997, tại Hoa Kỳ.
9. Thiền Sư Tăng Hội, tác giả Nhất
Hạnh, An Tiêm xuất bản 1998, tại Hoa Kỳ.