Hoàng Đế Kim
Phật
Và
Chiến Thắng
Sông Bạch Đằng
Trúc Lâm Phúc
Lộc
Quân
Nguyên rút về Tàu chia thành nhiều hướng khác nhau. Ngày
3 tháng 3 năm Mậu Tư (1288), Hữu Thừa Tŕnh Bằng
Phi, Thiên Tỉnh Đạt Mộc thống lĩnh kỵ
binh đi rước các cánh quân di chuyển bằng
đường thủy, có lẽ đi đón đoàn thuyền
của Trương Văn Hổ hay chăng, một hy vọng
chót trước khi rút về nước? Tuy nhiên khi qua chợ
Đông-Hồ th́ bị cản trở bởi ḍng sông phải
lui trở về đường cũ th́ cầu cống
đă bị quân nhà Trần bám theo sau phá hủy. Túng thế,
trước mặt th́ bị quân ta chận đường,
sau lưng là chướng ngại thiên nhiên, đoàn quân thiện
chiến của chúng đă bị dồn vào khoảng giữa.
Tiếc rằng v́ không đủ lực lượng để
bao vây và tiêu diệt kẻ thù, nếu không cánh quân này khó lọt
được ṿng vây của ta. Chúng đă gian manh dọ hỏi
những người dân của ta bị bắt làm tù binh về
lối thoát thân, cho nên vào nửa đêm hôm đó đám quân
này đă lẻn đột phá ṿng vây chạy trốn theo
con đường khác phối hợp với một cánh
quân Nguyên đang rút lui để cùng nhau ra khỏi ải Nội-Bàng.
Tuy bị bất ngờ bởi sự thay đổi lộ
tŕnh của chúng, quân đội nhà Trần đuổi theo
đánh rất sát vào cánh quân đi sau của chúng. Tướng
Nguyên là Vạn-Hộ Đáp-Thứ-Xích và Lưu-Thế-Anh
phải dẫn quân lính quay trở lại phía sau đối phó với quân
ta. Không may các vị tướng nhà Trần chỉ huy
đoàn quân tập kích vào quân thù là Tướng quân Phạm-Trù
và Nguyễn-Kỵ đă bị chúng bắt được
và đem giết đi.
Ngày 7
tháng 3 năm 1288, cánh quân Mông-cổ rút bằng đường
biển đi tới Trúc-Đông, tại đây quân nhà Trần
đă chận đánh chúng, nhưng không thành công. Tướng
Nguyên là Lư-Khuê chỉ huy cánh quân này đánh bật sự
tấn công của quân ta và tịch thu được 20 chiến
thuyền.
Ngày 8
tháng 3 năm 1288, Ô Mă Nhi chỉ huy quân lính không rút về bằng
đường biển mà chúng xử dụng con sông Bạch
Đằng để di chuyển, chúng lạc quan nghĩ rằng,
đường biển đă bị chu-sư (hải quân)
nhà Trần vây chặt c̣n đường sông th́ ta không pḥng
hờ nếu chúng rút lui như thế và một nguyên do khác
đó là, với con sông Bạch Đằng này chúng ta thể
rút lui được là v́ nó nối liền với nội
địa Tàu bằng thủy lộ.
Theo kế
hoạch đă bàn trước, quân dân ta dưới sự
đốc thúc của Hưng Đạo Vương đă chuẩn
bị một trận địa mai phục kỹ càng trên
sông Bạch Đằng, là nơi đoàn thuyền của giặc
Nguyên sẽ băng qua trên đường rút chạy. Các loại
gỗ lim, gỗ tàu đă được đốn ngă trên
rừng kéo về bờ sông và được đẽo nhọn
cắm xuống ḷng sông (xem họa đồ h́nh thức
bao vây quân giặc trên sông Bạch Đằng) ở các cửa
dẫn ra biển như sông Rút, sông Chanh, sông Kênh làm thành những
băi chông ngầm lớn, kín đáo dưới mặt nước.
Ghềnh Cốc là một dải đá ngầm nằm bắt
ngang qua sông Bạch Đằng nhưng phía dưới sông
Chanh, đầu sông Kênh, có thể sử dụng làm nơi
mai phục quân lính phối hợp với băi chông ngầm nhằm
ngăn chận thuyền địch khi nước rút xuống
thấp. Chu-sư (thủy quân) của ta kín đáo mai phục
phía sau Ghềnh Cốc, Đồng Cốc, Phong Cốc, sông
Khoái, sông Thái, sông Gia Đước, Điền Công; c̣n bộ binh
bố trí ở Yên Hưng, dọc theo bờ bên trái sông Bạch
Đằng, Tràng Kênh ở bờ bên phải sông Bạch Đằng,
núi Đá Vôi v.v…ngoại trừ sông Đá Bạc là để trống
cho quân Ô Mă Nhi kéo vào. Đại quân của hai vua đóng quân ở
Hiệp Môn (Kinh Môn, Hải Dương) trong tư thế sẳn
sàng lâm trận cho chiến trường quyết liệt sắp
xảy ra.
Đại
Cương Lịch Sử Việt Nam tập I ghi rất
chi tiết sông về sông Bạch Đằng: «Sông Bạch
Đằng hiểm yếu mà hùng vĩ chảy giữa hai
huyện Yên Hưng (Quảng Ninh) và Thủy Nguyên (Hải
Pḥng), cách vịnh Hạ Long, cửa Lục khoảng 40 km,
cách Vạn Kiếp nơi đóng quân của Thoát Hoan hơn
30 km, theo ngược ḍng sông Kinh Thầy.
Nước
Bạch Đằng theo thủy triều lên xuống, khi triều
lên cao, mặt sông ở vùng Tràng Kênh trải rộng hơn
1200 mét. Ḍng sông đă rộng lại sâu. Khi triều nước
xuống rặc, nơi sâu nhất đến 16 mét, trung
b́nh giữa ḍng cũng sâu từ 8 đến 11 mét. Theo sông
Đá Bạc chảy xuống đến đầu bắc dăy
núi Tràng Kênh, sông Bạch Đằng ph́nh to hẳn ra. Đó
là nơi tập trung ḍng nước của các sông Khoai, sông
Xinh bên tả ngạn và sông Gia Đước, sông Thải,
sông Giá bên hữu ngạn đổ về.
Sông
Chanh, sông Kênh (cửa sông này ngày nay đă bị lấp) và
sông Rút (c̣n gọi là sông Nam) là chi lưu bên tả ngạn Bạch
Đằng chia nước chảy ra vịnh Hạ Long. Một
khúc sông không dài quá 5 km mà có năm ḍng nước đổ
về và có ba nhánh sông phụ đưa nước ra biển.
Đó là h́nh thức của thượng lưu Bạch
Đằng.
Ở
ḷng sông Bạch Đằng từ bên hữu ngạn (thuộc
xă Phục Lễ, Thủy Nguyên) có một dải c̣ng đá
ngầm chạy qua vào quăng giữa sông Chanh và sông Rút, nhân dân
địa phương gọi đó là Ghềnh Cốc. Ghềnh
Cốc có năm cồn đá chắn ngang ba phần tư
sông Bạch Đằng. Khi triều xuống thấp nhất,
nơi cạn là 0,40 mét, nơi sâu là 3,70 mét, thuyền nhẹ
đi trên sông có thể thấy được cồn
đá. Ghềnh Cốc là dải đá gốc của chân
núi Tràng Kênh kéo dài ra. Khi chuẩn bị chiến trường,
Ghềnh Cốc đă khiến Trần Quốc Tuấn chú
ư. Ông đă lợi dụng địa h́nh thiên nhiên này sử
dụng nó như là chiến lũy làm chỗ dựa cho thuyền
ta lao nhanh ra ngay sông chặn địch.
Đặc
điểm địa h́nh nổi bật của vùng thượng
lưu Bạch Đằng là sông núi tiếp liệu nhau. Từng
ngọn núi nhấp nhô ở vùng núi đá Tràng Kênh ở phía
đông huyện Thủy Nguyên kéo nhau chạy sát tới bờ
sông. Ở đây có nhiều thung lũng nhỏ nằm gọn
giữa những ngọn núi đá vôi liền với lạch
nước ra tận bờ sông mà dân địa
phương gọi là áng núi như Áng Hồng, Áng Lác, Áng Chậu,
Áng Táu …
Các
sông Khoai, sông Xinh bên tả ngạn và sông Thái, sông Giá, sông Gia
Đước bên hữu ngạn Bạch Đằng chạy
theo các áng, len qua các dăy núi, là đường giao thông thuận
lợi cho quân thủy. Những ngọn núi chắn tầm
mắt địch. Áng núi và lạch sông là nơi có thể
tập trung quân thủy bộ với khối lượng
lớn, giấu quân kín đáo, xuất kích bí mật và dễ
dàng, từng đội thuyền ra vào nhẹ nhàng, nhanh
chóng. Có thể nói đây là trận địa mai phục lư
tưởng của quân ta. Thủy quân địch rút lui
theo đường Bạch Đằng buộc phải qua
đây. Dù có đề pḥng cẩn thận, chuẩn bị
sẳng sàng, binh thuyền của chúng cũng tự nhiên phải
dàn hàng qua khúc sông hiểm yếu này. Đối với ta,
thủy binh và bộ binh mai phục từ các nhánh sông đổ
ra phối hợp chiến đấu dễ dàng, thuận lợi.
Để
bảo đảm cho thế trận bao vây địch thật
hoàn chỉnh, ngoài việc dựa vào địa thế thiên
nhiên hiểm yếu và lợi dụng Ghềnh Cốc
như một chướng ngại thiên nhiên, Trần Quốc
Tuấn c̣n xây dựng ở các cửa sông những trận
địa cọc vững vàng, quy mô lớn. Đại Việt
Sử Kư Toàn Thư chép: trước đây Vương
đă đóng cọc ở sông Bạch Đằng phủ cỏ
lên trên.
Ḷng
sông Bạch Đằng rất rộng và sâu, khó có thể dựng
được những hàng cọc chắn ngang sông. Ở
Ghềnh Cốc cạn hơn nhiều nhưng là đá gốc
kéo dài từ Tràng Kênh nên cũng không thế nào cắm cọc
được. Mặt khác nước triều lên xuống
mạnh, độ chênh lệch khá lớn. Lưu tốc
nước là 0,26 mét. Những số liệu trên đây cũng
cho ta thấy một ư niệm về sông nước Bạch
Đằng đời Trần.
Ba cửa
sông Chanh, sông Kênh, sông Rút cạnh nhau dẫn thuyền từ
Bạch Đằng xuôi biển. Những tài liệu gần
đây đă xác định trận địa cọc của
Trần Quốc Tuấn được cắm ngang qua các cửa
sông này. Đó là những băi cửa sông Chanh cửa sông Kênh.
Băi cọc
chính nằm ở cửa sông Chanh sát liền với sông Bạch
Đằng ngày nay ta quen gọi là băi cọc Yên Giang. Hàng cọc
đóng ngang qua sông, theo hướng nam bắc. Hầu hết
các cọc đều bằng kim hoặc gỗ cứng to
và vững chắc có đường kính từ 20 cm đến
30 cm và dài từ 1,50 cm trở lên,
phổ biến là 2 mét, những cọc trung b́nh từ
0,9 mét đến 1,2 mét. Phần cọc phía dưới
được đẽo vát nhọn với độ dài
0,80 mét đến 1 mét. Đa số được cắm
thẳng đứng, đóng sâu xuống đất đáy
từ 1 mét đến 1,50 mét, giữa các hàng cọc có nhiều
khúc gỗ nằm ngang, có lẽ là khúc gỗ cài để
chận thuyền giặc».
Ngày 8
tháng 4 năm 1288, một đội thuyền của địch
đi trước ḍ đường tiến theo sông Giá.
Đến Trúc Động (Thụy Nguyên, Hải Pḥng),
đội thuyền này bị quân ta chận đánh phải
rút lui. Nhiệm vụ của trận này là bịt
đường sông Giá để bảo đảm bí mật
cho trận địa mai phục và buộc toàn bộ
đoàn thuyền của quân Mông-cổ phải hành quân theo sông Đá Bạc vào
sông Bạch Đằng, nghĩa là phải dẫn quân vào trận
địa do ta chọn sẵn. Gần đây phát giác
được băi cọc ở gần cửa sông Chanh và một
số cọc bên tả ngạn sông Bạch Đằng phía
dưới sông Chanh. Một số nhà nghiên cứu cho đó là di tích của băi cọc
trong trận Bạch Đằng nằm 1288. Niên đại
của băi cọc đó đang được nghiên cứu
để xác minh thêm.
Theo Toàn
Thư «Sông Bạch Đằng từ sông Lục Đầu,
tỉnh Bắc Ninh chia ḍng chảy vào Hải Dương. Một
nghành theo sông Mỹ, một nghành theo sông Cốc…». Địa
Lư Chí của Nguyễn Trăi chép: «Sông Bạch Đằng biệt
hiệu là sông Vân Cừ, rộng hơn hai dậm. Muôn sông
đứng sắp, các nước giao ḍng, sóng nổi lên trời!
Cây tre rợp băi! Thật là nơi hiểm yếu của
đường biển» (bản dịch của Nhượng
Tống).
Theo
nghiên cứu địa lư th́ sông Chanh, sông Kênh, sông Rút xưa
kia là lạch thoát của nước sông Bạch Đằng.
Hiện nay vùng này phù sa đang bồi thêm. V́ thế nên sông
Kênh chảy qua vùng Đồng Cốc (thuộc Yên Hưng)
đang bị lấp cạn, cửa sông hiện nay chỉ
c̣n vết trũng sâu mà dân địa phương gọi
là lũng Mắt Rồng sát bờ đê sông Bạch Đằng
(Đại Cương Lịch Sử Việt Nam tập I
trang 239).
Khi Ô Mă
Nhi dẫn đoàn thuyền tiến vào sông Bạch Đằng
nhân lúc nước lớn, thủy quân nhà Trần tràn ra
khiêu chiến, sau đó giả thua chạy vào sâu bên trong. Hắn
trúng kế khích tướng nên thúc quân vận tải
lương thực ra nghinh chiến, các tướng
Phàn-Tham-Chính, Hoạch Phong cùng ra tiếp ứng. Khi thuyền
giặc đă vào sâu bên trong sông Bạch Đằng, nghĩa
là thuyền của chúng đang đi trên những cọc gỗ
mà quân ta cắm sẳn dưới ḷng sông. Tướng quân
Nguyễn Khoái (người tỉnh Đông, lập
được công lớn trong những trận phá quân
Nguyên sau này được phong tưóc Hầu và được
ăn lộc một làng Khoái Lộ, ở phủ Khoái Châu
bây giờ) dẫn các quân lính Thánh Dực ra khiêu chiến và
nhử giặc Mông-cổ tiến sâu vào khúc sông đă
đóng cọc, trong thời gian đó quân ta đợi cho
thủy triều xuống mới trở đầu thuyền
lại và tấn công thẳng vào đội h́nh của quân
giặc.
Thủy
quân Đại Việt từ Hải Đông-Vân Trà từ
các phía Điền Công, Gia Đước, sông Thái, sông Giá
nhanh chóng tiến ra sông Bạch Đằng. Với hàng
trăm chiến thuyền cùng quân lính các lộ khác căng
tay chèo thật nhanh ra sông và dựa vào Ghềnh Cốc lập
thành một dăy thuyền chặn đầu thuyền địch
trong thế chấn chiến hạm ở ngang sông. Trong lúc
thủy chiến dữ dội th́ đoàn chiến thuyền
của hai vua đóng ở vùng Hiệp Sơn (Kinh Môn, Hải
Dương). Cũng có nơi nói Đức Hoàng đế
Trần đóng quân ở Hiệp Môn (Kinh Môn, Hải
Dương) đă xông ra tấn công giặc theo kế hoạch
đă dự trù trước. Trước đó, đạo
quân của hai vua chỉ huy đóng ở vùng Hiệp Môn bên
bờ sông Giáp (sông kinh Thần, vùng Kinh Môn, Hải
Dương) làm nhiệm vụ đánh cầm chừng và cản
bước tiến của giặc. Đạo quân của
hai vua tấn công từ phía sau của quân giặc khiến
chúng càng bị lúng túng và tổn thất rất nặng. Bị
tấn công tới tấp trên sông, một số cánh quân khác
của địch bỏ thuyền chạy lên bờ sông
bên trái của Yên Hưng để t́m đường trốn
thoát. Nhưng vừa lên tới bờ chúng lại rơi vào
ổ phục kích của quân ta, và một trận đánh ác
liệt đă xảy ra. Trời về chiều khi chiến
trường sắp kết thúc, cánh quân của Thoát Hoan
đóng gần đó vẫn án binh bất động không tới
tiếp ứng, hắn đă bỏ rơi Ô Mă Nhi cùng với
thuộc hạ chống đỡ thụ động
trước sự tấn công của quân ta và đạo
quân này hoàn toàn bị quân ta tiêu diệt. Theo Nguyên sử, truyện
của Phàn Tiếp chép rằng kịch chiến xảy ra từ
giờ măo đến giờ dần, tức là từ sáng
ṛng ră kéo dài đến chiều.
Đặc
điểm của sông Bạch Đằng là khi nước
lớn rất nhanh mà nước rút cũng khá lẹ. Cho
nên khi nước rút quá lẹ như thế thuyền của
giặc Nguyên bị cọc gỗ đâm trúng, lật đỗ
cả, quân giặc chết đuối vô số kể, máu
đă chan ḥa cả ḍng sông. Quân ta tịch thu được
hơn 400 chiến thuyền, Tước Nội Linh Tự
Đỗ Hành bắt sống được Ô Mă Nhi và Tích Lệ
Cơ Ngọc (Nhiều tài liệu khác ghi là Tích Lê Cơ hay
Tích Lê Cơ Đại Vương. Viên tướng Mông-cổ
này tên là Tích Lê Cơ, c̣n Vương là tước hiệu.
Chữ Ngọc? chép
lầm từ chữ chữ
Vương? Chú thích Toàn Thư) và đem dâng cho Thượng
hoàng Thánh Tông.
An-Nam
Chí-Lược (sử của giặc Nguyên do phản thần
triều đ́nh nhà Trần ghi lại) có ghi các tướng
Nguyên là Phàn Tiếp và Hoạch Phong đến tiếp ứng
cho Ô Mă Nhi, nhưng không ghi rơ sống chết. Tuy nhiên, trong
Nguyên Sử có chép về Phàn Tiếp như sau (tờ 10 b
2-3): «Tiếp cùng Ô Mă Nhi đem quân thủy trở về,
bị giặc đón chận. Triều sông Bạch Đằng
xuống, thuyền Tiếp mắc cạn. Thuyền giặc
dồn về nhiều, tên bắn như mưa. tiếp hết sức đánh từ giờ
măo đến giờ dậu. Tiếp bị súng bắn, rớt
xuống nước. Giặc móc lên bắt, dùng thuốc
độc giết».
Chiến
thắng Bạch Đằng có một ư nghĩa quan trọng
đó là quân dân Đại Việt đánh tan toàn bộ
đoàn quân triệt thoái của giặc triệt thoái bằng
đường thủy do Ô Mă Nhi đích thân chỉ huy. Từ
bấy lâu nay mỗi khi nhắc tới chiến thắng
này chúng ta thường đề cập tới Hưng
Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là người
đă có công tạo nên nó. Các quyển sử xưa như
Cương Mục, Toàn Thơ thường nhắc tới
người lănh đạo tối cao của quân dân nhà Trần
vào lúc đó là Đức Hoàng Đế Trần Nhân Tông (tức
Hoàng đế Kim Phật) đă lănh đạo thành công hai
lần kháng Nguyên 1285 và 1288. Khi đề cập tới
Hưng Đạo Vương về trận Bạch Đằng
chúng ta cần đặc biệt nhắc tới Đức
Hoàng đế Trần Nhân Tông. Đức Hoàng đế Trần
Nhân Tông vừa là bậc lănh đạo chính trị kiêm chỉ
huy tối cao về quân sự (mặc dù Hưng Đạo
Vương là Tiết chế được xem như là tổng
tham mưu trưởng, nhưng Đức Hoàng đế
Trần lại là vị tổng tư lịnh tối cao),
và là người đă đề ra mọi đối sách từ
ngoại giao đến quân sự nội trị với kết
quả là Đại Việt đă thành công đánh bại
giặc Nguyên qua hai cuộc xâm lăng của chúng. Khi quân
Mông-cổ tràn qua xâm lăng đất nước chúng ta lần
thứ hai, lần thứ ba, nếu không có trí tuệ sáng suốt,
tài ngoại giao khéo léo, nghệ thuật lănh đạo cuộc
chiến một cách đầy mưu lược, cũng
như ḷng can đảm để đương đầu
trước mọi t́nh h́nh và nhân từ trong việc đối
xử với người trong gia tộc, dân chúng, binh lính
cho đến kẻ thù th́ Đức Hoàng Đế Kim Phật
làm sao có thể hội tụ được sức mạnh
của toàn dân tộc để chống lại quân thù. Ngài
là bậc Thánh Quân có một không hai trong lịch sử dân tộc
nên đă được các danh tướng như Trần
Hưng Đạo, Trần Khánh Dư, Trần B́nh Trọng,
Trần Quốc Tảng v.v… hết ḷng phù trợ. Đó là
những sự thực lịch sử mà mỗi người
trong chúng ta cần ghi khắc và lấy tấm gương
sáng ngời của Ngài truyền lại cho thế hệ
con cháu chúng ta sau này.
Quan
điểm của giáo sư tiến sĩ Lê Mạnh Thát (tức
Thượng tọa Thích Trí Siêu) về trận chiến ở
sông Bạch Đằng được ghi như sau trong
Toàn Tập Trần Nhân Tông-Lê Mạnh Thát các trang 148-149:
«Phàn Tiếp truyện, như
vậy, ghi nhận trận đánh xảy ra từ giờ
Măo đến giờ Dậu, tức từ sáng tới chiều
th́ chấm dứt. Thuyền của Đại Việt tập
trung rất đông, “tên bắn như mưa”. Và việc
Phàn Tiếp, khi bị thương nhảy xuống nước,
quân ta đă dùng câu liêm móc lên, bắt được, rồi
sau đó hơn 10 ngày mới giết đi, v́ ngày 17 khi vua
Trần Nhân Tông hiến tiệp ở Long Hưng, th́ Phàn Tiếp
c̣n có mặt cùng với đám Tích Lệ Cơ (Ơirôgi), Ô
Mă Nhi, Đường Ngột Đăi, Sầm Đoạn,
Mai Thế Anh, Điền nguyên soái.v.v.
Băi cọc đă treo thuyền
cả đám tướng tá giặc vào ngày mồng 8 tháng 3
năm Mậu Tư (1288) ấy, ngày nay chưa xác định
được rơ ràng. Tuy nhiên, ta biết việc đóng cọc
trên sông Bạch Đằng phải xảy ra trong thời
gian chưa đầy 3 tuần kể từ khi Ô Mă Nhi tấn
công trại Yên Hưng vào ngày 19 tháng 2 và đến ngày mồng
8 tháng 3 quân Ô Mă Nhi đă có mặt ở sông Bạch Đằng.
Trong t́nh h́nh chiến tranh thời bấy giờ, việc
đưa một đoàn thủy quân địch vào đúng
ổ phục kích do ta thiết kế quả là một thành
công rực rỡ của khoa học và nghệ thuật chỉ
đạo quân sự của bộ chỉ huy tối cao của
đất nước lúc ấy, mà đứng đầu
là vua Trần Nhân Tông.
Sự
có mặt của vua Trần Nhân Tông cùng Thượng hoàng cũng
như Trần Hưng Đạo và Nguyễn Khoái chứng
tỏ trận đánh này trên hết nếu không do chính vua
Trần Nhân Tông chỉ đạo và vạch kế hoạch,
th́ cũng phải do chính nhà vua phê chuẩn và đồng ư
thực hiện. Thực tế, chỉ việc vua Trần
Nhân Tông hiện diện tại mặt trận này biểu
thị một quyết tâm cao của người lănh đạo
đất nước phải thực hiện cho
được chủ trương và kế hoạch đă
đề ra, coi đây là một nhiệm vụ xung yếu
phải hoàn thành để đạt mục đích của
cuộc chiến tranh. Sự kiện tiêu diệt toàn bộ
đội thủy quân do Ô Mă Nhi chỉ huy ngày nay thường
được nhiều người nghiên cứu gắn
vào cho tên tuổi Trần Hưng Đạo, mà quên đi sự
hiện diện của vua Trần Nhân Tông tại trận
đánh quyết chiến tiêu diệt này. Trong mọi cuộc
chiến tranh, lănh đạo chính trị bao giờ cũng
là thống soái. Chỉ có sự lănh đạo chính trị
mới tập hợp hết được mọi lực
lượng của dân tộc cho cuộc chiến tranh.
Không có cuộc tập hợp này th́ dù có tướng tài tới
bao nhiêu, dù có kế hoạch tác chiến tốt tới
đâu, và dù nhân dân yêu nước và quyết tâm chiến
đấu cao tới mức nào đi nữa, th́ cuộc
chiến tranh vẫn thất bại» (*)
Lịch
Sử Việt Nam tập I ghi ở trang 212 một chi tiết
nhỏ về trận Bạch Đằng: «…Bà hàng nước
ở bến đ̣ Rừng (Bạch Đằng) đă chỉ
dẫn cho Trần Quốc Tuấn biết con nước
sông Bạch Đằng để bố trí trận địa
mai phục». Đây là một chi tiết khá đặc biệt.
Một bà hàng nước mà lại có cái nh́n của một
vị tướng lănh cầm quân đánh giặc, nên đă
chỉ dẫn cho Hưng Đạo Vương cách thức
bày binh bố trận để chận đánh quân thù. Có một
điều đáng tiếc là chúng ta không biết ǵ về
danh tánh cũng như gia phả của bà. Nhưng một
điều có thể nói rằng, bà hàng nước ở bến
đ̣ Rừng bên bờ sông Bạch Đằng của
năm nào xứng đáng được ghi vào danh sách của
những người có công đánh đuổi giặc
Nguyên (**).
Trương
Hán Siêu đă ca ngợi chiến thắng ở sông Bạch
Đằng qua
Bài Phú Sông Bạch Đằng
Khách
có kẻ: Chèo bể bơi trăng, buồm mây giang, gió. Sớm
ngọn Tương kia, chiều hang Vũ nọ. Vùng vẫy
Giang, Hồ: tiêu dao Ngô, Sở. Đi cho biết đây, đi
cho biết đó. Chằm Vân-mộng chứa ở trong kho
tư-tưởng, đă biết bao nhiêu, mà cái trí khí tứ
phương, vẫn c̣n hăm hở!
Mới
học thói Tử-trương: bốn bể ngao du. Qua cửa
Đại-than sang bến Đông-triều, đến sông Bạch-Đằng,
đứng đỉnh phiến-chu. Trắng xóa sông kềnh
muôn dặm, xanh ŕ dặng ác một màu. Nước trời
lộn sắc, phong cảnh vừa thu. Ngàn lau quạnh cơi,
bến lách đ́u-hiu. Giáo gậy đầu sông, cốt khô
đầy g̣. Ngậm ngùi đứng lắng ngắm cuộc
sống phù du. Thương kẻ anh hùng đâu vắng tá,
mà đây dấu vết hăy c̣n lưu.
Kia
ḱa, bến sông, phu lăo người đâu. Lượng trong
bụng ta, chứng có sở cầu. Hoặc gậy trống
trước, hoặc thuyền bơi sau. Vái tạ mà
thưa rằng: Đây là chỗ chiến địa vua Trần
bắt giặc Nguyên, và là nơi cố-châu của vua Ngô phá
quân Lưu đây.
Đương
khi: muôn
đội thuyền bày, hai quân giáo chỉ. Gươm tuốt
sáng ḷe, cờ bay đỏ khí! Tướng Bắc quân Nam
đôi bên đối lũy. Đă nổi gió mà bay mây, lại
kinh thiên mà động địa. Ḱa quân Nam-Hán nó mưu sâu,
nọ Hồ-Nguyên có sức khỏe. Nó bảo rằng: phen
này đạp đổ nước Nam, tưởng chừng
có dễ.
May
sao: Trời giúp quân ta, mây tan trận nó, khác nào như quân Tào
Tháo bị vỡ ở sông Xích-bích khi xưa, giặc Bồ
Kiên bị tan ở bến Hợp-phù thuở nọ. Ấy
cái nhục tày trời của họ, há những một thời,
mà cái công tái tạo của ta lưu danh thiên cổ.
Tuy vậy,
từ thuở có trời có đất, vẫn có giang-san. Trời
đặt ra nơi hiểm-trở, người tính lấy
cuộc tồn-an. Hội này bằng hội Mạnh-tân,
như vương-sự họ Lă; trận nào bằng trận
Dung-thủy, như quốc sĩ họ Hàn. Ḱa trận Bạch-Đằng
này mà đại-thắng, bởi chưng Đại-vương
coi thế giặc nhàn. Tiếng thơm c̣n măi, bia miệng
hao ṃn. Nhớ ai sa giọt lệ, hổ ḿnh với nước
non!
Rồi vừa đi vừa
hát rằng:
Sông Đằng một dải
dài ghê!
Cuồng to sóng lớn dồn
về biển Đông.
Trời Nam sinh kẻ anh hùng.
Tăm kềnh yên lặng, non
sông vững-vàng
Khách vừa đi vừa hát rằng:
Vua Trần hai vị Thánh-quân.
Sông kia c̣n dấu tẩy trần
giáp-binh
Ngh́n xưa gẫm cuộc
thăng-b́nh.
Tài đâu đất hiểm,
bởi ḿnh đức cao.
Nguyên văn chữ Nho của
Trương Hán Siêu, Đông Châu dịch.
Khảo về địa-dư
và lịch-sử tỉnh Quảng-Yên (Nam-phong tạp-chí, tập
XIV số 8, tháng 6-1924).
Thơ của
Phan Lập Trai th́ ghi
Biển Châu hiển phát
Chương Dương độ
Dăn kiến sa âu phù chân chử
Dục mịch Trần Nguyên cổ
chiến trường
Tưởng tại trung
lưu soan khích xứ.
Dịch
nghĩa:
Buổi sáng cưỡi thuyền
nhỏ ra bến Chương Dương,
Chỉ trông thấy đàn chim
âu bơi trên sóng nước.
Muốn t́m cảnh chiến
trường xưa giữa quân Trần và quân Mông-cổ
Tưởng tượng ở
chốn nước xoáy giữa ḍng.
(Việt
Nam Văn Học Sử Yếu tập I, giáo sư
Dương Quảng Hàm, trang 152)
Ở
đền Kiếp Bạc c̣n ghi lại câu đối bằng
quốc âm để tưởng nhớ các bậc anh hùng
dân tộc như sau:
Uy tan
giặc Bắc, trận Sát Thát quân reo, một tay chống lại
sơn hà: quét bụi Tống,
rửa thù Nguyên, ṇi giống vẻ vang hồn lịch sử ;
Ơn
khắp miền Đông, đền Đại Vương
quốc tế, mảnh đă in c̣n sự nghiệp: tiếng
sóng Bạch Đằng, vầng mây kiếp, khói
hương phảng phất bóng anh hùng.
Năm 1984 tại viện khoa
học Hoàng Gia Anh Quốc, Hưng đạo Vương là
vị tướng duy nhất được đa số
bầu chọn làm một trong mười vị tướng
lănh giỏi nhất nhân loại thời trung cổ. Đây là một
sự hănh diện lớn lao cho dân tộc chúng ta. Tuy nhiên nếu
có dịp chúng ta cần nhắc thêm cho viện khoa học
này biết thêm về Hoàng đế Kim Phật tức Hoàng
đế Trần Nhân Tông là một nhân vật lănh đạo
lỗi lạc của thời nhà Trần trong 2 lần
đại phá quân Nguyên (1285-1288).
Dưới đây là phần
trích trang nhà britannica.com có ghi về Hưng Đạo
Vương.
http://www.britannica.com/eb/article?eu=75078
Tran Hung Dao
born
1229?
died 1300,
original name Tran Quoc Tuan, also called Hung Dao
Vuong figure of almost
legendary proportions in Vietnamese history, a brilliant military strategist
who defeated two Mongol invasions and became a cultural hero among
modern Vietnamese.
By the early 1280s the Vietnamese kingdom faced a
growing threat from the Mongols under Kublai
Khan , who had
conquered
Phụ đính :
Đại Việt Sử Kư Toàn Thư, bản in Nội Các
Quan Bản, Mộc bản khắc năm Chính Ḥa thứ 18
(1697) do Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên v.v…đồng
biên soạn; nhà XBKHXH xuất bản 1993 tại Hà Nội;
nhóm bạn Lê Bắc, Công Đệ, Ngọc Thủy,Tuyết
Mai, Hồng Ty, Nguyễn Quang Trung chuyển sang ấn bản
điện tử năm 2001, ở trang 198, phần Bản
Kỷ quyển V ghi: «Trước đó, Vương
đă đóng cọc ở sông Bạch Đằng, phủ
cỏ lên trên. Hôm ấy, nhân lúc nước triều lên,
Vương cho quân khiêu chiến rồi giả cách thua chạy,
bọn giặc đuổi theo, quân ta cố
sức đánh lại. Nước triều xuống, thuyền
giặc vướng cọc hết. Nguyễn Khoái chỉ
huy quân Thánh Dực dũng nghĩa đánh nhau với giặc,
bắt sống B́nh Chương, Áo Lỗ Xích (Toàn thư ghi chú là Áo Lỗ Xích đă theo Thoát Hoan
chạy trốn.). Hai vua đem quân tiếp đánh…».
Khâm Định Việt Sử Thông Giám
Cương Mục, do Quốc Sử Quán triều Nguyễn
biên soạn (1856-1881), dịch giả Viện Sử Học
Hà Nội (1957-1960), nhà xuất bản Giáo Dục Hà Nội
xuất bản 1998, nhóm bạn Lê Bắc, Công Đệ, Ngọc
Thủy,Tuyết Mai, Hồng Ty, Nguyễn Quang Trung chuyển
sang ấn bản điện tử năm 2001, phần
Chính Biên, quyển VIII trang 230 ghi: «…Khi bọn Ô Mă Nhi về
đến Bạch Đằng, Quốc Tuấn nhân lúc
nước thủy trào lên, cho quân ra khiêu chiến, giả vờ
thua chạy, bên Nguyên đem cả quân đuổi theo. Lúc ấy nước thủy trào xuống rất
mau. Tướng Nguyễn Khoái thống lănh vệ quân
Thánh Dực tung quân ra đánh quật lại,
phá tan được quân Nguyên. Gặp lúc ấy đại
quân của nhà vua kế tiếp tiến đến…».
Lịch Sử Việt Nam tập 1 do nhà
xuất bản khoa học xă hội xuất bản năm
1985 ghi về chiến trường sông Bạch Đằng
như sau: «Theo kế hoạch Trần Quốc Tuấn,
quân dân ta, đẵn gỗ lim, gỗ tàu trên rừng về,
đẽo nhọn cắm xuống tạo thành một băi
chướng ngại vật lớn. Chiến thuật của
Ngô Quyền từ thủa phá quân
Những Trang Sử Vẻ Vang do Nguyễn
Lân biên thuật, nhà XBKHXH Hà Nội, xuất bản 1998 ở
trang 71 ghi: «Khi Ô Mă Nhi đem quân đến Bạch Đằng
giang, Nguyễn Khoái dẫn binh thuyền ra khiêu chiến, dử
quân Nguyên lên khúc sông đă đóng cọc, rồi đợi
khi thủy triều xuống mới quay lại đánh thực
hăng. Bấy giờ đại binh của Hưng Đạo
Vương tiếp đến…».
Việt Nam Sử Lược của Lệ
thần Trần Trọng Kim ở trang 62 (chuyển sang ấn
bản điện tử do Lê Bắc, Công Đệ, Ngọc
Thủy, Tuyết Mai, Hồng Ty, Nguyễn Quang Trung 2001) do
Trung Tâm Học Liệu Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt
Nam Cộng Ḥa xuất bản ghi một đoạn ngắn
về diễn tiến trận Bạch Đằng: «Những
chiến thuyền của Ô Mă Nhi, Phàn Tiếp theo gịng sông Bạch
Đằng, bổng chốc thấy tướng nhà Trần là
Nguyễn Khoái dẫn chiến thuyền đến khiêu chiến,
Ô Mă Nhi tức giận thúc quân xông vào đánh, Nguyễn Khoái
liền quay thuyền chạy…Nguyễn Khoái nhử quân
đi khỏi xa chỗ đóng cọc, rồi mới quay
thuyền đánh vật lại, hai bên đang đánh
hăng th́ đại quân của Hưng Đạo Vương
tiếp đến».
Việt Sử Toàn Thư của sử
gia quân đội Phạm Văn Sơn ở trang 199 (chuyển
sang ấn bản điện tử do Lê Bắc, Công Đệ,
Ngọc Thủy, Tuyết Mai, Hồng Ty, Nguyễn Quang Trung
2001) ghi: «Nguyễn Khoái nhử giặc đi khỏi chỗ
đóng cọc một quảng xa, rồi quay thuyền trở
lại đánh kịch liệt, quân của Hưng Đạo
Vương tiếp đến ».
Ở đây chúng ta thấy Toàn Thư,
Cương Mục và Lịch Sử Việt Nam tập 1 ghi
chính hai vua (tức thượng hoàng Thánh Tông và hoàng đế
Kim Phật) thống lănh đại quân nhà Trần tiến
đánh quân Mông-cổ cùng với tướng quân Nguyễn
Khoái. Nhưng Những Trang Sử Vẻ Vang, Việt Sử
Toàn Thư, Việt Nam Sử Lược th́ lại ghi là đại
binh của Hưng Đạo Vương tiếp chiến(hay
tiếp đến) cùng với tướng quân Nguyễn
Khoái tấn công quân Mông-cổ. Chúng tôi ghi ra
đây để cho những người yêu thích nghiên cứu
lịch sử nước nhà có dịp tham khảo.
(*) Tham khảo Toàn
Tập Trần Nhân Tông, Giáo sư tiến sĩ Lê Mạnh
Thát, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt
(**) Trích Đức Hoàng đế
Kim Phật biên khảo của Trúc Lâm Lê An
B́nh (chưa xuất bản).
Trúc Lâm Phúc Lộc
http://www.nsvietnam.com/online/sangtac/k29-hoangde.html
-------------------------
Góp ư của người đọc:
www.viethoc.com
Author: XPH (localhost)
Date:
Góp với An
Binh bản dịch Bạch Đằng giang phú của Nguyễn
Hữu Tiến, Bùi Văn Nguyên. Cá nhấn XPH cho rằng bài
này hay và hùng tráng hơn nhiều bản dịch Đông Châu.
"Đây là chiến địa buổi Trùng hưng Nhị
thánh bắt Ô Mă. Cũng là băi đất
xưa Ngô chúa phá Hoằng Thao", hai câu này dịch tuyệt
vời. Đoạn đầu tái hiện được
cái phong khí hào sảng của Tư Mă Tử Trường
ghê gớm.
Khách có kẻ: