Bảo Nghĩa Hầu Trần B́nh Trọng

 

Tóm lược nội dung : «Thái tổ nhà Trần vua Thái Tông băng hà năm Bảo Phù thứ 5, 1277, thọ 6o tuổi, trị v́ 33 năm. Nhà Nguyên muốn lợi dụng nước ta đang có tang muốn đem quân sang xâm chiếm, chúng sai nhiều sứ giả sang nước ta chiêu dụ vua nhà Trần sang triều cống Mông-cổ. Nhưng Đức vua Trần Nhân Tông đă khéo léo từ chối và t́m cách kéo dài thời gian để chuẩn bị lực lượng chống Nguyên.

 

Với chủ tâm xâm chiếm nước ta, ngày 21 tháng 12 năm Giáp Tư (1284) quân Mông-cổ do Thoát Hoan cầm đầu đă tràn xuống tới biên giới của nước ta. Trước sự tấn công hung hăn của giặc lần lượt các ải Khả-Ly (thuộc Lạng Sơn), Nữ-Nhi, Chi Lăng,  bến Vạn Kiếp v.v…rơi vào tay giặc.»

 

Trúc Lâm Lê An B́nh

 

Ngày 14 tháng giêng (1285), quân ta lập các cứ điểm (gồm các sào lũy bằng gỗ) pḥng ngự phía Nam sông Cái để chống giặc, ở đây mở màn cho trận đánh thành Thăng Long. Theo An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 7a4 ghi như sau –Toàn Tập Trần Nhân Tông, Lê Mạnh Thát- về rơ bối cảnh của trận đánh «Trấn Nam Vương liền cùng quan hành tỉnh tự ḿnh đến Đông Ngạn, sai quân đánh, giết được rất nhiều, bắt được 20 thuyền. Hưng Đạo Vương thua chạy. Quan quân buộc bè làm cầu, sang bờ bắc sông Phú Lương. Nhật Huyên bố trí binh thuyền, dựng rào gỗ dọc theo sông. Thấy quan quân đến bờ, lập tức nổ pháo, hô lớn thách đánh. Đến chiều lại sai Nguyễn phụng ngự mang thư đến Trấn Nam Vương và quan hành tỉnh, xin rút đại quân. Hành tỉnh lại đưa thư trách, rồi lại tiến quân. Nhật Huyên liền bỏ thành chạy, đồng thời sai Nguyễn Hiệu Nhuệ đem thư xin lỗi và biếu phương vật, cùng xin rút quân. Hành tỉnh lại đưa thư chiêu dụ, rồi điều quân sang sông, đóng ở dưới thành An Nam. Hôm sau, Trấn Nam Vương vào quốc đô của nước đó. Cung thất đều trống trơn, chỉ lưu lại mấy tờ chiếu sắc và mấy lá thư của hành tỉnh, tất cả đều bị xé nát».

 

Ở đây cho ta thấy toàn diện bối cảnh của trận đánh ngay bên ngoài kinh thành Thăng Long do Đức vua Trần thống lănh ba quân chiến đấu. Tuy rằng cách đây hơn một tháng vào ngày 9 tháng giêng và liên tiếp sau đó nhiều ngày quân ta đă kịch chiến với giặc ở bến đ̣ B́nh Than và lại rút lui, nhưng cũng cần phải hiểu đó là cuộc triệt thoái nằm trong kế hoạch dự trù để dụ quân địch vào nơi mà ta thấy thích hợp để đánh. Kế hoạch rút quân của ta từ B́nh Than về Thăng Long và từ Thăng Long về Thiên Trường là nhằm bảo toàn lực lượng tránh đi ba mũi tấn công của giặc Nguyên. Một mũi do chính Thoát Hoan và A Lư Hải Nha từ phía Đông Bắc xuống, mũi kế là từ Tây Bắc thọc qua do Nạp Tốc Lạt Đinh và cuối cùng, quan trọng hơn là mũi từ phương Nam đâm lên do Toa Đô chỉ huy. Khi quân Nguyên tới phía bắc bờ sông Hồng (tức sông Phú Lương), chúng kết bè để làm cầu vượt sông. Binh sĩ ta trông thấy lập tức nổ súng (pháo) chống giặc và cố t́nh trêu chọc bằng cách thách thức đánh nhau. Trong lúc hai bên đang kịch chiến, Đức vua Trần Nhân Tông sai Nguyễn Hiệu Nhuệ sang trại quân Nguyên đưa thơ và cống phẩm yêu cầu Thoát Hoan rút lui. Thoát Hoan không nghe vừa gởi thơ trách móc vừa tiếp tục tấn công.

 

Về nhân vật đưa thư th́ trong An Nam Truyện ghi là tên hai người là Nguyễn Phụng Ngự và Nguyễn Hiệu Nhuệ (trong Cương Mục và sách Trần Hưng Đạo của Hoàng Thúc Trâm cũng ghi là Nguyễn Hiệu Nhuệ không thấy ghi Nguyễn Phụng Ngự). Mục đích là nhằm ḍ thám quân t́nh thực hư của địch cho nên ta mới duy tŕ sự liên lạc với chúng một cách chừng mực, sự duy tŕ này ta thời nay gọi là vừa đánh vừa đàm. Phía quân Nguyên có rơ mưu lược này của ta hay không th́ không ai được biết, nhưng mỗi lần ta đưa thơ qua, chúng đều trả lời (dĩ nhiên là với những lời lẽ không thuận lợi) và cho sứ giả của ta đi vào doang trại của chúng, đây là một sự thành công về chiến lược t́nh báo do Đức vua Trần chủ trương. Có thể nói phương pháp này chỉ có triều đ́nh nhà Trần là xử dụng một cách hiệu quả nhất từ xưa đến nay mà thôi.

 

Thoát Hoan không chấp thuận lời rút quân, bèn cho quân lính tấn công và bắc cầu phao sang sông, sau đó đóng doanh trại sát kinh thành. Tại đây theo An-Nam Chí-Lược quyển 4 tờ 37 th́ Đức Hoàng Đế Trần cùng quân sĩ trấn giữ Lư-Giang (có lẽ đây là một phần của sông Hồng trước khi vào Thăng Long). Quân ta ở hai bờ sông lập đồn chống cự dữ dội nhưng không được đành phải rút lui. Thoát Hoan vào được Thăng Long chỉ thấy thành quách trống trơn không người lui tới, chỉ c̣n lại các văn thư của Mông-cổ đă bị xé nát. Đó đây dưới các gốc cây c̣n để lại nghiêm lịnh cấm quân dân Đại Việt đầu hàng kẻ thù. Tuy chiếm được Thăng Long nhưng Thoát Hoan e dè sợ lọt vào ổ phục kích của ta nên không dám đóng quân trong thành. Về thời điểm khi thành Thăng Long thất thủ th́ Cương Mục Chính Biên quyển VII ghi «Ngày hôm sau, kéo quân vào thành, th́ lúc bấy giờ nhà vua đă chạy ra ngoài rồi, Thoát Hoan cho quân đuổi theo».

 

Việt Sử Tiêu Án ghi «ngày đă về chiều, quân giặc qua sông vào kinh thành». Toàn Tập Trần Nhân Tông của giáo sư Lê Mạnh Thát ghi ở trang 73 như sau: «Chính trong ngày 14 tháng giêng năm Ất Dậu ấy (1285) khi Thoát Hoan vào kinh thành yến tiệc với thuộc hạ». An-Nam Chí-Lược của Lê Tắc quyển đệ tứ ghi: «Ngày 13 Bính Tuất…Trấn-Nam-Vương qua sông mở tiệc tại cung đ́nh An-Nam». Quyển Đạo Phật và Ḍng Sử Việt của tác giả Đức Nhuận ghi ở trang 265: «ngày 18 tháng 2…địch dùng súng đại bác bắn yểm trợ…kéo đến đánh chiếm Thăng Long; nhưng khi vào được thành th́ chỉ c̣n trơ trụi những thành quách».

 

Tại sao lại có sự khác biệt nêu trên về thời điểm thành Thăng Long thất thủ như thế? Quyển Toàn Tập Trần Nhân Tông của giáo sư Lê Mạnh Thát ghi 14 tháng giêng năm Ất Dậu (1285); c̣n Đạo Phật và Ḍng Sử Việt của tác giả Đức Nhuận ghi vào ngày 18 tháng 2. C̣n Thăng Long mất vào buổi sáng, chiều hay ngày hôm sau, có nơi ghi là ngày 14 tháng giêng là do sự đề kháng của quân ta ở những nơi chốn khác nhau, và khi không có sự đề kháng nữa th́ Thoát Hoan mới vào được bên trong thành. So sánh đối chiếu nhiều bộ sử khác nhau, chúng tôi đi đến quyết định lấy ngày 14 tháng giêng là ngày giặc chiếm thành Thăng Long.

 

Khi quân giặc kéo vào Thăng Long th́ Đức vua Trần và toàn thể quân dân Đại Việt đă rời khỏi kinh thành để lui về Thiên Trường (Nam Định) mà lập pḥng tuyến mới. Trong khi đó quân Nguyên vẫn tiếp tục truy sát quân ta để cố bắt cho được hai vị vua của ta.

 

Ngài rước Thượng Hoàng Trần Thánh Tông đi Tam Trĩ Nguyên (là sông Ba Chế, ở huyện Ba Chế thuộc tỉnh Quảng Ninh), Thoát Hoan khi vào thành biết rằng nhà vua đă đi xa nên càng gấp rút đuổi theo. Hưng Đạo Vương là người có tài, nhưng có hiềm khích trong gia đ́nh với hai vị vua (v́ cha là An Sinh Vương Trần Liễu đă khởi binh chống lại triều đ́nh), khi thấy ông cầm một cây gậy đầu có bịt sắt đi theo hai vua bôn đầu, khiến nhiều người dân để ư, ông đă tháo bỏ đầu bọc sắt, chỉ xử dụng gậy không, từ đó dân chúng mới yên ḷng. Điều này chứng tỏ ông là một người biết gát bỏ thù riêng để lo việc nước, hành động này thật đáng ca ngợi và c̣n lưu măi tiếng thơm ở đời sau.

 

Quân do thám Mông-cổ ḍ biết được nơi chốn đào tỵ của hai vua nên chúng chia hai đường do Tả thừa truy đuổi bằng đường thủy, Hữu thừa rượt theo bằng đường bộ. Đức Hoàng đế Trần bỏ đường thủy pḥ Thượng Hoàng đi bộ cùng với quân dân. Trong Cương Mục và Toàn Thư không thấy ghi cách tổ chức hành quân triệt thoái vào đời Trần ra sao, nhưng có một điều chắc chắn rằng đă được các vị lănh đạo thời đó suy nghĩ cũng như sắp xếp một cách chu đáo cuộc triệt thoái này. Ngày nay nhiều nhà quân sự tiếng tăm trên thế giới cho rằng hành quân triệt thoái nó c̣n khó hơn cả khi tấn công và đất địch v́ đạo quân bị rơi vào thế thụ động vừa phải t́m cách bảo toàn lực lượng vừa lo chống đỡ kẻ thù truy kích, th́ cách đây 718 năm về trước, một vị Hoàng đế người Việt Nam đă thành công trong việc chỉ huy đoàn quân triệt thoái giữa lúc đang bị kẻ thù xâm lăng truy đuổi gắt gao. Người đó không ai khác hơn đó là Đức Hoàng đế Trần Nhân Tông.

 

Như ta đă thấy ở các trận, ngoại trừ trận Nội-Bàng, Chi-Lăng, Vạn-Kiếp đây là những chiến trường mà ta và quân Mông-cổ giao tranh rất ác liệt và gay go. Nhưng với quân số áp đảo, Mông-cổ đă đánh bứt được các vị trí trú pḥng trên vùng biên giới khiến ta phải rút lui một cách bất ngờ ngoài dự định. Đặc biệt khi chiến tuyến Nội-Bàng thất thủ đă làm xáo trộn hoàn toàn kế sách phóng thủ của quân đội Đại Việt. Lư do như các đoạn trước có nói là v́ ta bố trí binh sĩ dựa theo sự bố pḥng của danh tướng Lư Thường Kiệt cách đây 200 năm về trước chống lại quân nhà Tống, phương pháp này đă rất có hiệu quả vào thời đó. Nhưng vào lúc mà quân Nguyên tấn công vào ta trên nhiều trận tuyến, th́ phương pháp này hoàn toàn thất bại, v́ quân thù ngày nay khác với trước. Quân thù này ngày càng hung hăng hơn năng động hơn, ta có thất bại một vài trận đầu là chuyện đương nhiên không thể tránh khỏi.

 

Để điều chỉnh khiếm khuyến chiến lược này Đức Hoàng đế Trần đă gấp rút đi bằng thuyền nhẹ ra Hải-Đông đến nỗi quên cả ăn sáng để hội họp cấp tốc với Hưng-Đạo-Vương. Từ đó một kế sách mới được h́nh thành. Đó là chiến lược rút lui, pḥng thủ và phản công. Và chiến lược này bắt đầu thực hiện, từ trận B́nh-Thang do Đức Hoàng đế Trần Nhân Tông đích thân thống lănh hơn 100 ngàn quân dân Đại Việt chiến đấu chống giặc.

 

Một trong những pḥng tuyến xa bảo vệ Thiên Trường (Nam Định nơi đặt triều đ́nh tạm của ta) là băi Tha-Mạc (tức sông Thiên-Mạc ở bên sông Cái thuộc Hưng-Yên. An-Nam Chí-Lược gọi là ải Thiên-Hán), vị tướng trấn thủ pḥng tuyến này là Bảo-Nghĩa-Hầu Trần B́nh Trọng. Ngày 21 (nhâm th́n) tháng giêng năm Ất Dậu (1285) quân ta chạm địch ở băi Tha Mạc trong nỗ lực ngăn chận sự tiến quân của chúng làm pḥng tuyến xa cho Thiên Trường. Cũng cần biết thêm về Bảo-Nghĩa-Vương Trần B́nh Trọng thuộc ḍng dơi vua Lê Đại Hành, là người chồng sau của công chúa Thụy Bảo, có thân phụ làm quan trong đời vua Trần Thái Tông. Ông được triều đ́nh cho phép mang họ Trần. Trong trận giao tranh với địch quân ở băi Tha-Mạc (hay Đà-Mạc nay là băi Mạn Trù theo Toàn Thư tức hạ lưu sông Phú Lương ở tại băi Mạn Trù của huyện Đông Yên vùng tỉnh Hưng-Yên) quân Nguyên chiếm được nơi này và chúng bắt được Bảo-Nghĩa-Vương. Khi bị giặc bắt Bảo-Nghĩa-Vương Trần B́nh Trọng nhất định cự tuyệt việc ăn uống và không hé môi nói một lời nào về t́nh h́nh quân đội và triều đ́nh Đại Việt. Thoát Hoan hỏi Vương rằng: «Có muốn làm Vương đất Bắc hay không»?

 

Bảo-Nghĩa-Vương hét lớn: «Ta thà làm ma nước Nam chứ không làm Vương đất Bắc».

 

Thoát Hoan thấy không thể nào chiêu dụ được vị dũng tướng như thế nên hắn ra lịnh giết đi để trừ hậu hoạn. Nghe được hung tin Bảo-Nghĩa-Vương Trần B́nh Trọng tử quốc, Đức Hoàng đế Trần và triều đ́nh đă vô cùng thương khóc cho người nghĩa tướng một ḷng v́ dân v́ nước. Phải nói cái chết của Bảo-Nghĩa-Hầu Trần B́nh Trọng là một sự mất mát lớn lao của triều đ́nh nhà Trần, đặc biệt là đối với Đức vua Trần Nhân Tông là người rất coi trọng t́nh nghĩa gia đ́nh, cho nên trong Cương Mục ghi lại phản ứng của ngài là «Nhà vua được tin này, vật vă thương khóc».

 

Đại Cương Lịch Sử Việt Nam tập I ở trang 228 ghi ngày 26 tháng 2 năm 1285 giặc Nguyên giết chết danh tướng Trần B́nh Trọng. Bị giặc bắt trong gần một tháng, ông phải đối phó với nhiều thủ đoạn mua chuộc cũng như áp lực tinh thần của kẻ thù, chưa hết ngày 1 tháng 2 xảy ra sự kiện Chương Hiến Hầu Trần Kiện (một tôn thất nhà Trần) đầu hàng kẻ thù, tin tức bất lợi như thế làm thế nào mà ông không hay biết, làm sao mà kẻ thù không khai thác có lợi cho chúng? Thế mà ông vẫn giữ vững tinh thần chiến đấu và ḷng trung thành với tổ quốc và dân tộc Việt Nam, không hổ danh là Bảo Nghĩa Hầu và tiếng thơm này vẫn c̣n lưu truyền ở ngàn đời sau.

 

(Trích Đức vua Trần Nhân Tông, tinh anh và tổng lực của tộc Việt. Biên khảo sử của Trúc Lâm Lê An B́nh. -Chưa xuất bản-).

 

Trúc Lâm Lê An B́nh